PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Ngôi nhà của những huyền thoại!



maradola
05-03-2008, 03:06 PM
Đây chỉ là một số cầu thủ mà mình biết trong khoảng 10 năm trở lại đây,có thiếu sót thì các bạn bổ sung thêm nha.Xếp theo thứ tự ngẫu nhiên,ko phải xếp hạng
1.Ryan Giggs


Ngày sinh: 29/11/1973http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/picsrvmanutdcomgi.jpg
Ngày kí hợp đồng: 09/07/1990
Trận đấu ra mắt: 02/03/1991 gặp Everton (H) tại League
Tổng số bàn thắng: 141
Tổng số lần ra sân: 716
Vị trí: Tiền vệ
Ngày rời United:
Quốc tịch: Xứ Wales

Ryan Giggs là cầu thủ giàu thành tích nhất CLB với 18 danh hiệu quan trọng, thế nhưng, nếu không nhờ có bàn tay dẫn dắt của Sir Alex Ferguson, có lẽ anh cũng không thể mang vinh quang về cho Old Trafford như ngày hôm nay.

Cầu thủ sinh ra tại Cardiff này đã được theo học trường năng khiếu của Manchester City thuở thiếu thời, nhưng Sir Alex đã có một chuyến viếng thăm cá nhân tới nhà anh vào đúng sinh nhật lần thứ 14 của anh và Ryan đã quyết định bỏ qua cơ hội được ký hợp đồng với CLB thời niên thiếu của mình.

Anh đã chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp tại United vào tháng 11 năm 1990. Trận đấu trình làng của anh là cuộc chạm trán với Everton tại Old Trafford ở giải hạng nhất cũ vào ngày 2/3/1991 từ vị trí dự bị thay cho Denis Irwin.

Mùa giải sau đó, trong lần được xuất trận đầu tiên của mình, anh đã tạo được một ấn tượng đáng nhớ khi ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho United trong chiến thắng 1-0 trước Manchester City cho dù đó chỉ là một bàn thắng may mắn.

http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-15.jpgChấn thương của Lee Sharpe cũng đồng nghĩa với cơ hội được ra sân thường xuyên hơn của Giggs ở đầu mùa giải 1991/92 nhờ vào kỹ năng rê bóng đầy lôi cuốn và những bước chạy sắc sảo.

Danh hiệu đầu tiên của anh đến vào tháng 4 năm 1992 khi United đánh bại Nottingham Forest trong trận chung kết League Cup, và mùa giải tiếp theo, anh đã lần đầu tiên được đứng lên bục cao nhất tại Premiership để giành lấy huy chương chiến thắng. Tổng cộng anh đã có đến 9 danh hiệu vô địch Premiership cho riêng mình.

Bảng thành tích ấn tượng của Giggs còn bao gồm các danh hiệu: cúp Châu Âu, siêu cúp Châu Âu và cúp liên lục địa, không những vậy, trong 5 lần giành FA Cup của Sir Alex Ferguson, anh được góp mặt tới 4 lần. Bàn thắng đáng nhớ nhất trong sự nghiệp thi đấu của anh chính là pha ghi bàn sau nỗ lực cá nhân xuất chúng trong trận đá lại bán kết gặp Arsenal tại Villa Park vào tháng 4 năm 1999.

Ryan đã kỷ niệm 10 năm tại Old Trafford bằng một trận đấu tôn vinh anh với đối thủ là Celtic vào mùa 2001/02. Tuy vậy, những cột mốc lịch sử vẫn tiếp diễn... Một năm sau đó, anh đã có bàn thắng thứ 100 trong sự nghiệp thi đấu của mình ở trận hòa 2-2 trước Chelsea tại Stamford Bridge, và anh đã trở thành người thứ hai trong lịch sử có được trận đấu thứ 700 cho United khi anh giúp Quỷ Đỏ có được một chiến thắng sát nút quan trọng trước Liverpool tại Anfield vào tháng Ba năm 2007.

Người đang giữ kỷ lục của CLB về số lần khoác áo là Sir Bobby Charlton (759) và Giggs, người mà hợp đồng hiện tại vẫn còn thời hạn đến tháng Bảy năm 2008, đang có cơ hội rất tốt để vượt qua con số đó.

Thủ quân của đội tuyển xứ Wales đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giành danh hiệu vô địch 2006/07 của United. Đó là chiến thắng thứ chín cho Giggs và đưa anh vượt qua người giữ kỷ lục trước đó Alan Hansen, người đã giành được tám danh hiệu trong màu áo Liverpool. Một mùa giải thành công tiếp theo của Quỷ Đỏ trong mùa bóng 2007/08 sẽ giúp Giggs trở thành cầu thủ đầu tiên đăng quang mười lần tròn.

Sau khi từ giã đội tuyển xứ Wales với 64 lần khoác áo và ghi được 12 bàn, Giggs đã lại nhận được thêm một danh hiệu cao quý, đó là tước hiệp sĩ OBE. Anh đã được đưa vào danh sách những người nhận danh hiều cao quý này trong dịp sinh nhật Nữ Hoàng Anh vì những cống hiến cho bóng đá của mình. Một phần thưởng hoàn toàn xứng đáng.

2.Gary Neville
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/picsrvmanutdcom-2.jpg

Ngày sinh: 18/02/1975
Ngày kí hợp đồng: 08/07/1991
Trận đấu ra mắt: 16/09/1992 gặp Torpedo Moscow (H) tại UEFA Cup
Tổng số bàn thắng: 7
Tổng số lần ra sân: 540
Vị trí: Hậu vệ cánh
Ngày rời United:
Quốc tịch: Anh

Tiếp theo Bryan Robson, Steve Bruce, Eric Cantona và Roy Keane, Gary Neville đã thực hiện được giấc mơ lớn trong đời mình. Anh đã trở thành người đội trưởng thứ 5 của United có được vinh dự giương cao chiếc cúp vô địch Giải Ngoại Hạng Anh trong mủa giải 2006/2007.

Chỉ có một điều thất vọng duy nhất trong chiến dịch chinh phục của Quỷ Đỏ là đội bóng đã thiếu vắng người đội trưởng trong giai đoạn cuối của mùa giải. Neville đã phải chịu một chấn thương mắt cá chân chỉ sau có 11 phút trong trận đấu với Bolton ngày 17 tháng 3, và đó là lần cuối cùng anh ra sân trong mùa giải đó.http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-16.jpg

Nhưng bạn có thể chắc chắn rằng, anh ấy luôn xuất hiện trong phòng thay đồ của đội bóng, hoặc là trên khán đài. Không ai, không một ai mong mỏi United giành chiến thắng nhiều như người đội trưởng mang áo số 2.

Cho đến nay, Gary Neville là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 500 lần khoác áo cho Manchester United. Chàng hậu vệ này đã có được thành tích quan trọng đó trong mùa giải 2005/06. Không những vậy, sau sự ra đi của cựu trưởng Roy Keane, anh đã được Sir Alex Ferguson trao trọng trách thiêng liêng này thay thế. Là một trong những cầu thủ thi đấu ổn định và vững chắc nhất của United kể từ khi có được vị trí trong đội hình 1 ở mùa giải 1994/95, Neville luôn là một sự lựa chọn đáng tin cậy đối với HLV người Scotland.

Anh luôn bước vào mỗi trận đấu với tinh thần quyết thắng. Các cổ động viên yêu anh vì điều đó. Tuy nhiên, công việc anh làm, một hậu vệ, không thể làm hài lòng tất cả mọi người đặc biệt là những quan chức bóng đá. Pha ăn mừng "quá mức cần thiết" của anh sau bàn thắng quyết định ở phút cuối cùng trong trận gặp Liverpool tại Old Trafford vào tháng 1 năm 2006 đã khiến anh phải chịu án kỷ luật không được thích đáng của FA cùng với số tiền phạt là 5000 bảng Anh.

"Chẳng nhẽ chỉ được mỉm cười ngọt ngào và rồi ung dung bước trở lại vạch giữa sân sau những bàn thắng như thế thôi sao?" anh nói. "Mọi người muốn các cầu thủ phải trong sạch như tờ giấy trắng ấy. Họ muốn xem một trận đấu của những người máy chắc?"

Đã không còn những lời chê trách đối với màn ăn mừng đỉnh cao tiếp theo của Gary trong trận chung kết Carling Cup 2006. Anh đã giương cao chiếc cúp đầu tiên của mình trong vai trò thủ quân của United và nhận lấy chiếc huy chương của giải trong nước duy nhất mà anh còn thiếu trong sự nghiệp của mình. Quỷ Đỏ đã không giành được nó kể từ tháng 4 năm 1992, khi Gary còn là thành viên của đội trẻ nổi tiếng một thời với những cái tên như David Beckham, Nicky Butt, Ryan Giggs và Paul Scholes.

Lớn tiếng và quyết đoán, anh luôn nỗ lực hết mình trong mỗi lần ra sân, và anh đòi hỏi điều tương tự từ các đồng đội của mình - không cho phép bất cứ lời bào chữa nào. Anh là Gary Neville, "số 2" huyền thoại!

3.Paul Scholes
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/picsrvmanutdcom2-1.jpg

Ngày sinh: 16/11/1974
Ngày kí hợp đồng: 08/07/1991
Trận đấu ra mắt: 21/09/1994 gặp Port Vale (A) tại League Cup
Tổng số bàn thắng: 137
Tổng số lần ra sân: 536
Vị trí: Tiền vệ
Ngày rời United:
Quốc tịch: Anh

Chỉ có rất ít người có đủ thực tài và đức để làm cho tượng đài Sir Bobby Charlton phải ấn tượng cao độ. Huyền thoại của United nói về Paul Scholes: "Luôn luôn bình tĩnh và tập trung, cộng với tài chuyền bóng chính xác như đặt giúp Scholes trở thành một cầu thủ thực sự rất đáng xem."

Paul Scholes là một thành viên quan trọng trong lứa cầu thủ hoàng kim mà Manchester United đào tạo thành công trong thập kỷ 90, bên cạnh Beckham, Giggs, Butt và anh em nhà Neville. Tiền đạo "hoàng tử hạt tiêu" sinh tại Manchester này ghi bàn trong cả trận ra mắt màu áo đội 1 Man United gặp Port Vale tại League Cup mùa giải 1994/95 lẫn trận đầu tiên tại giải Ngoại hạng gặp Ipswich.

Paul Scholes đạt đủ độ chín để trở thành thành viên chính thức của đội 1 Manchester United vào đúng thời điểm huyền thoại Eric Cantona bị treo giò 9 tháng sau pha kungfu nổi tiếng ở mùa bóng 1995/96. Anh thay thế Cantona một cách hoàn hảo, giúp Man United đoạt cú đúp ở mùa bóng đó: vô địch giải Ngoại hạng và giành FA Cup.

Cùng với Keane, Giggs và Beckham, anh trở thành lá phổi của đội bóng giành cú ăn ba vĩ đại năm 1999, cho dù không thể có mặt tại trận chung kết do bị dính 2 thẻ vàng trước đó. Khi Man United giành chức vô địch Premiership năm 2003, Paul Scholes cũng đóng góp tới 20 bàn thắng, chỉ đứng sau Ruud van Nistelrooy.

Bộ sưu tập 14 huy chương các loại của Paul Scholes chỉ thua kém đúng 5 cầu thủ trong lịch sử CLB, trong đó chỉ có Ryan Giggs là còn đương thời. Một vấn đề về tầm nhìn đã buộc Scholes rời xa sân cỏ trong nửa sau của mùa giải 2005/06, nhưng anh đã tìm lại được chính mình để giúp cho Quỷ Đỏ có được danh hiệu Premiership mùa 2006/07. Những lần tỏa sáng cá nhân như pha mở tỉ số trong trận thắng 2-0 trước Liverpool vào tháng Mười năm 2006 và một cú vô-lê tuyệt đẹp trong chiến thắng 3-0 tại Aston Villa hai tháng sau đó, bàn thắng đã giúp anh giành được giải Bàn thắng đẹp nhất mùa giải trong buổi lễ trao giải cầu thủ của CLB.
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-17.jpg
Những đóng góp của anh đã được các cầu thủ cũng như giới báo chí công nhận khi anh xếp ở vị trí thứ ba trong danh sách Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA và vị trí thứ tư trong bầu chọn của các nhà báo bóng đá - cả hai giải thưởng này đều thuộc về người đồng đội của anh Cristiano Ronaldo.

Hiện tại anh đang đứng thứ 7 trong danh sách những người khoác áo CLB nhiều nhất và đứng thứ 12 trong danh sách những vua phá lưới của CLB. Không còn nghi ngờ gì nữa, Scholes là một trong những tài năng xuất chúng nhất trong lịch sử United.

maradola
05-03-2008, 03:19 PM
4.Denis Irwin
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images.jpg

Ngày sinh: 31/10/1965
Ngày kí hợp đồng: 08/06/1990
Trận đấu ra mắt: 25/08/1990 gặp Coventry City (H) tại First Division
Tổng số bàn thắng: 33
Tổng số lần ra sân: 529
Vị trí: Hậu vệ cánh
Ngày rời United: 31/05/2002
Quốc tịch: Ai Len

Là một trong những cầu thủ vĩ đại của Manchester United hiện đại, sự nghiệp của Denis Irwin là một trong những bước tiến vững chắc để đi tới giai đoạn lớn nhất cho CLB và đất nước - những nơi mà anh đã có những đóng góp thực sự ở vị trí hậu vệ trái, với một con mắt tinh tế trong việc kiếm tìm những bàn thắng, cho dù thường xuyên không được đánh giá cao.

Cựu học viên của Leeds United này đến với sân Old Trafford theo 1 bản hợp đồng trị giá 625.000 bảng từ Oldham Athletic vào năm 1990, sau khi gây ấn tượng trong trận bán kết FA Cup đã đi vào lịch sử trước Quỷ Đỏ năm đó. Mùa giải đầu tiên của anh với United, 1990/91 - được dự báo trước bởi 1 trận tứ kết World Cup gặp Cộng Hòa Ai Len của Jack Charlton - đã lên đến cực điểm ở chiến thắng cúp C2 Châu Âu tại Rotterdam.

Nhưng phải đến mùa bóng giành danh hiệu Championship 1992/93 thì Irwin mới thực sự chứng tỏ được khả năng của mình. Cho tới thời điểm đó, anh đã đóng góp được 5 bàn thắng, trong đó có một cú lốp bóng từ khoảng cách gần 30 mét vào lưới của Coventry City.

Anh là cầu thủ còn xót lại duy nhất của đội hình trước đó trong chiến thắng kép tại mùa giải 1993/94, là nòng cốt của đội hình đã lặp lại được thành tích này vào năm 1996. Buộc phải vắng mặt trong trận chung kết FA Cup trong lần giành cú ăn ba lịch sử năm 1999 vì bị treo giò, anh đã trở lại Nou Camp trong ngày trọng đại nhất của Champions League gặp "Hùm xám" Bayern Munich để cười nhạo lên cái tuổi 34 già cỗi của mình.

Danh hiệu tiếp theo đến vào năm 2000 - năm mà Denis quyết định từ giã sự nghiệp thi đấu quốc tế để kéo dài thêm tương lai tại cấp CLB của mình. Cột mốc 500 lần khoác áo Quỷ Đỏ đến vào đúng ngày lễ thánh Patrick năm 2001 - năm thứ 10 anh gắn bó với sân Old Trafford - khi anh dẫn dắt đội nhà đè bẹp Leicester City. Anh tiếp tục được trao băng đội trưởng lần nữa trong trận cuối cùng tiếp Derby County tại Old Trafford - và nâng cao chiếc cúp vô địch - danh hiệu thứ 7 của anh.

Sau khi gia hạn hợp đồng thêm 1 năm nữa, cuối cùng, anh đã chấm dứt sự nghiệp 12 năm đầy vinh quang của mình trong trận gặp Charlton Athletic tại Old Trafford vào tháng 5 năm 2002. Anh vẫn là cầu thủ giàu thành tích thứ 2 của United với 13 huy chương chiến thắng.

5.Roy Kean

http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images1.jpg

Ngày sinh: 10/08/1971
Ngày kí hợp đồng: 19/07/1993
Trận đấu ra mắt: 07/08/1993 gặp Arsenal (N) tại Charity Shield
Tổng số bàn thắng: 51
Tổng số lần ra sân: 480
Vị trí: Tiền vệ
Ngày rời United: 18/11/2005
Quốc tịch: Cộng Hoà Ai-len

Sir Alex Ferguson đã nói anh là cầu thủ tuyệt vời nhất mà ông đã từng làm việc cùng, các cầu thủ bóng đá có khát vọng và Quỷ đỏ ở mọi nơi đều ngưỡng mộ những phẩm chất của anh: Roy Keane chính là hình ảnh thu nhỏ của tinh thần quật cường và niềm khao khát chiến thắng mang tên Manchester United.

Rất ít các vận động viên thể thao có thể làm thủ lĩnh ở trên mọi mặt trận như Keane đã làm được, cả trong lẫn ngoài sân cỏ - và việc có hơn 70.000 cổ động viên United và Celtic bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với anh trong trận đấu kỷ niệm của anh trước khi từ giã sân cỏ vào tháng Sáu năm 2006 đã nói lên tất cả.

Hình ảnh anh trấn tĩnh tinh thần cho các đồng đội, bao quát toàn sân trong trận đấu đã tạo nên United những năm 1990. Anh không bao giờ e ngại việc nói ra những suy nghĩ của mình trước giới truyền thông, nhất là khi anh cảm thấy các đồng nghiệp của mình chưa đạt được phong độ cao như anh mong đợi.

Tiền vệ sinh ra tại Cork bắt đầu sự nghiệp cùng với Cobh Ramblers sau khi không thể giành được một suất học việc tại Anh. Brian Clough đưa anh tới Nottingham Forest trước khi anh hoàn tất một bản hợp đồng trị giá kỷ lục thời đó 3.75 triệu bảng để chuyển tới Old Trafford hè năm 1993.

Hai bàn thắng trên sân nhà trong trận đấu trình làng của anh, một trận thắng 3-0 trước Sheffield United, dường như đã báo trước điều gì sắp diễn ra và trong năm đó Keane đấu sĩ đã giành được danh hiệu đầu tiên trong bộ sưu tập bảy danh hiệu Premiership, một European Cup, một Intercontinental Cup và bốn FA Cup trong suốt sự nghiệp của mình.

Anh nhận chức thủ quân của United từ tay Eric Cantona vào đầu mùa giải 1997/98, nhưng mùa bóng của anh đã bị gián đoạn bởi một chấn thương dây chằng đầu gối sau một pha vào bóng với Alf-Inge Haaland của Leeds tại Elland Road vào tháng Chín năm 1997.

Mùa bóng 1998/99 đã chứng kiến những tháng ngày đầy rẫy chông gai mà Keane phải trải qua. Trên con đường đưa United tới cú ăn ba lịch sử của họ, anh phải lĩnh một chiếc thẻ đỏ trong trận đá lại với Arsenal, liền sau đó là một thẻ vàng trong trận lượt về bán kết Champions League gặp Juventus, buộc anh phải vắng mặt trong đêm không thể nào quên tại Barcelona khi United trở thành nhà vô địch Châu Âu.

Ngoài sức ảnh hưởng tới United, Keane - người đã giành được các giải thưởng Cầu thủ xuất sắc của năm và giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm do hội cầu thủ bình chọn trong năm 2000 - đã chứng minh tầm quan trọng của anh tới đội tuyển quốc gia và có được gần 70 lần khoác áo đội tuyển Cộng Hòa Ai Len.

Một vụ xích mích lớn giữa cựu HLV đội tuyển Ai Len Mick McCarthy, sự vụ đã khiến Keane phải vội vã rời khỏi đội tuyển quốc gia từ World Cup 2002, tưởng như đã trở thành dấu chấm hết cho sự nghiệp thi đấu quốc tế của anh, nhưng anh đã bất ngờ quay trở lại đội tuyển dưới thời của Brian Kerr vào tháng Năm 2004.

Tuy nhiên, sự tái hợp chỉ kéo dài cho tới mùa thu năm 2005. Sau khi đội tuyển Ai Len không thể vượt qua vòng loại chung kết World Cup 2006, Keane đã tuyên bố từ giã sự nghiệp quốc tế.

Ở thời điểm đó, anh đang bị chấn thương sau khi bị gẫy xương bàn chân trong trận Premiership của United với Liverpool tại Anfield vào ngày Chủ nhật, 18/9/2005. Anh vẫn tiếp tục vắng bóng trên sân cỏ cho tới ngày thứ Sáu 19/11 khi bất ngờ tuyên bố chia tay những tháng ngày tươi đẹp cùng Quỷ Đỏ.

Manchester United đã đưa ra một bài phát biểu qua Manutd.com tuyên bố rằng sự nghiệp Old Trafford của Keane đã kết thúc. Quỷ Đỏ đã đã tiến tới một sự thỏa thuận với Keane để kết thúc hợp đồng ngay lập tức, tạo điều kiện cho anh gia nhập Celtic.

"Quả thực đây là một ngày buồn đối với tôi khi phải rời xa một CLB và một HLV tuyệt vời như thế này, nhưng tôi tin rằng đã đến lúc tôi phải ra đi," Roy nói trong ngày ra đi của anh.

Trong bài phát biểu tương tự, Sir Alex Ferguson đã miêu tả Keane là "cầu thủ tiền vệ hay nhất thế giới ở thế hệ anh" và là "một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử đầy vinh quang của CLB."

Trong 6 tháng chơi cho Celtic, anh đã giúp đội bóng này giành được chức Vô địch quốc gia và League Cup Scotlen. Sau đó, anh đã thông báo từ giã sân cỏ vào ngày 12 tháng 6 năm 2006 vì gặp phải một chấn thương khó bình phục.

Sau đó, Roy Keane đã trở thành huấn luyện viên của Sunderland. Ngay lập tức, anh đã giúp đội bóng "Mèo Đen" giành được một suất lên chơi ở Giải Ngoại Hạng Anh mùa giải 2007/2008.

6.George Best
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-1.jpg

Ngày sinh: 22/05/1946
Ngày kí hợp đồng: 01/08/1963
Trận đấu ra mắt: 14/09/1963 gặp West Brom (H) tại First Division
Tổng số bàn thắng: 179
Tổng số lần ra sân: 470
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 02/01/1974
Quốc tịch: Bắc Ai Len

"Nếu tôi sinh ra đã là một kẻ tồi tệ thì bạn sẽ chẳng bao giờ nghe đến cái tên Pelé." Đâu đó trong câu nói đùa này là một sự thật và có một điều không phải bàn cãi, George Best là tài năng bẩm sinh lớn nhất mà bóng đá Anh đã sản sinh ra.

Tốc độ, khả năng giữ thăng bằng, tầm quan sát, kỹ năng điều khiển bóng hoàn hảo, kiến thiết những cơ hội và ghi bàn từ những tình huống tưởng chừng không thể, tất cả cũng chỉ có thể nói đến một nửa cuộc đời ông. Một nửa khác là những ham muốn không biết kìm nén như thể ông sinh ra là để chơi bời, lừa phỉnh không dứt và tận hưởng. Pelé, đã gọi cựu số 7 của United là “cầu thủ vĩ đại nhất thế giới.”

Chàng thanh niên gầy ốm, đến từ miền quê Cregagh ở Belfast, được phát hiện bởi chuyên gia săn tìm tài năng của United, Bob Bishop, nổi tiếng khi nói với Matt Busby: “Huấn luyện viên, tôi nghĩ tôi vừa tìm được một thiên tài cho ông.”

Vượt qua một bên là nỗi nhớ nhà da diết, Best đã bắt đầu chơi bóng chuyên nghiệp từ sinh nhật thứ 17 vào tháng Năm năm 1963, ra mắt lần đầu tiên vào tháng Chín – và ghi bàn ngay trong lần thứ hai xuất hiện. Và lần khoác áo đầu tiên cho đội tuyển Bắc Ai – Len đến liền ngay sau đó.

Mùa giải 1964/1965, mùa giải đầu tiên ở United, bên cạnh những Dennis Law, Bobby Charlton và David Herd, Best chính là nhân tố quan trọng dẫn đến những thắng lợi của Quỷ Đỏ trong thời kỳ hậu Munich.

Ở mùa giải tiếp theo, trong trận gặp Benfica tại khuôn khổ Bán kết Cúp C1, Best gần như độc diễn giúp United vượt qua đối thủ ngay trên sân khách. Người khổng lồ xứ Lisbon đã lần đầu tiên phải nếm mùi thất bại ngay tại sân nhà, và sau khi đóng góp một cú đúp trong đại trận thắng 5-1, ông được đặt biệt danh là “El Beatle”.

Một danh hiệu thứ hai đến vào năm 1967, và một lần nữa, Best lại tỏ ra là mối hiểm họa đối với Benfica một năm sau đó trong trận Chung kết Cúp C1 năm 1968 khi đưa Quỷ Đỏ nâng tỉ số lên 2-1 dẫn đường cho chiến thắng 4-1 trong hiệp phụ. Với 28 bàn thắng trong mùa giải này, Best trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho United – ông còn nhận được giải PFA và Quả Bóng Vàng châu Âu. Vị thế của ông tiếp tục được duy trì suốt bốn mùa giải tiếp theo.

Khi triều đại Busby kết thúc cũng là lúc một con người bị hủy hoại, Best phải chiến đấu với mặt tối của chính bản thân ông, thứ vẫn luôn đồng hành với Best cho đến tận khi ông mất vào tháng Mười Một, 2005.

Năm 1972, ông còn nổi tiếng với vụ “tạm rời sân cỏ” để tới Marbella, trước khi trở lại lần nữa và cuối cùng vĩnh viễn rời khỏi United vào tháng Một năm 1974 để chuyển đến một loạt các câu lạc bộ trên khắp thế giới, trong số đó có Dunstable Town, Fulham, Los Angeles Aztecs, Brisbane Lions hay thậm chí Jewish Guild của Nam Phi.

Chúng ta hãy nhớ về sự nghiệp huy hoàng của George, như chính ông đã mong muốn lúc sinh thời.

Ông có 361 lần ra sân trong màu áo Quỷ Đỏ tại League, ghi được 136 bàn thắng; thời hậu chiến ông còn giữ kỷ lục là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho United trong một trận đấu – với sáu bàn thắng ghi được vào lưới Northampton Town tại vòng năm Cup FA năm 1970, khi United đại thắng với tỉ số chung cuộc 8-2.

Một lời vĩnh biệt dành cho Best vào tháng 11 năm 2005 được gửi đi từ sân Upton Park, ngay trước trận đấu thuộc khuôn khổ giải Ngoại hạng giữa chủ nhà West Ham và Manchester United. Trong trận đấu mà ngay cả Best cũng sẽ tự hào về các hậu bối của mình, đồng hương người Ireland của George là John O'Shea đã ghi bàn ấn định tỉ số thắng 2-1.

maradola
05-03-2008, 03:27 PM
7.Mark Hughes
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-2.jpg

Ngày sinh: 01/11/1963
Ngày kí hợp đồng: 01/06/1980
Trận đấu ra mắt: 30/11/1983 gặp Oxford Utd (A) tại League Cup
Tổng số bàn thắng: 164
Tổng số lần ra sân: 466
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 31/05/1995
Quốc tịch: Xứ Wales

Người ta vẫn nói rằng cánh cửa duy nhất sẽ sập xuống sau khi bạn rời khỏi United, nhưng có một số ít cầu thủ khi chuyển tới một CLB như Barcelona, và rồi sau đó lại trở về với Old Trafford lần thứ 2 thì thậm chí còn gặt hái được nhiều thành công hơn với Quỷ Đỏ. Mark Hughes là như vậy, luôn có thói quen làm mọi thứ theo cách riêng của mình trong suốt sự nghiệp lừng lẫy ấy...

Chuyện tình của ông với United bắt đầu vào tháng 3 năm 1978 khi ông ký tờ đơn học việc năm 14 tuổi, nhưng ít ai dám tin rằng tiền vệ trẻ tuổi từ Wrexham này sắp sửa trở thành một trong những tay săn bàn xuất sắc nhất mọi thời đại của CLB.

HLV đội trẻ United Syd Owen chính là người đã phát hiện và đưa Hughes lên chơi ở vị trí tiền đạo. Tất cả mọi Quỷ Đỏ đều mắc nợ ông một lời cảm ơn vì điều này. Ngay lập tức Hughes đã có "quà ra mắt" bằng một bàn thắng vào lưới Oxford tháng 11 năm 1983 và 6 tháng sau đó, ông lại tiếp tục đánh dấu trận đấu quốc tế đầu tiên của mình bằng một bàn thắng khác trong trận gặp đội tuyển Anh.

Năm 1985, ông đã giành được giải thưởng cầu thủ trẻ xuất sắc của năm do PFA bình chọn cùng 1 huy chương chiến thắng FA Cup, nhưng một rắc rối trong hợp đồng đã làm đứt quãng những ngày tháng gắn bó với Quỷ Đỏ của ông và 1 năm sau đó ông đã rời khỏi United để bất ngờ được HLV Barcelona thời đó là Terry Venables nẫng về sân Nou Camp.

Hughes chưa bao giờ được đề cao tại Nou Camp và ông đã miêu tả lần chuyển tới thánh địa Catalan của mình bằng từ "khủng khiếp" khi chỉ ghi được có 4 bàn thắng trong 28 trận đấu.

Một năm sau đó, ông được gửi sang Bayern Munich dưới dạng cho mượn, nơi mà ông đã tìm lại được khả năng săn bàn sát thủ của mình và vào tháng 7 năm 1988, Alex Ferguson đã chi 1.5 triệu bảng để đưa ông trở lại với sân Old Trafford quen thuộc. Quyết định này đã ngay lập tức phát huy hiệu quả. Ngay trong mùa giải đầu tiên quay trở lại, Hughes đã được nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc của năm do PFA bình chọn và cứu thoát Quỷ Đỏ trong trận chung kết FA Cup 1990 với 2 bàn thắng vào lưới Crystal Palace để có được trận hòa, tạo cơ hội cho đội bóng thành Manchester có thêm 1 trận đá lại giúp Ferguson có được chiếc cúp đầu tiên của mình.

Một lần nữa ông lại được trao giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất năm 1991 và có được danh hiệu đáng tự hào - cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu ở chung kết Cúp C2 châu Âu tại Rotterdam khi ghi được 2 bàn thắng trong chiến thắng 2-1 trước đội bóng cũ Barcelona.

Năm 1992 tiếp tục đến với một huy chương khác, lần này là League Cup đầu tiên trong lịch sử của Quỷ Đỏ, và ở mùa giải tiếp theo đó ông đã cùng với United được đứng lên bục vinh quang lần đầu tiên trong 26 năm để nhận danh hiệu vô địch Ngoại hạng.

Sự phối hợp ăn ý mới mẻ giữa Hughes và Eric Cantona đã thắp lửa cho United giành được danh hiệu vô địch và sau đó Hughes đã tỏ ra rất xúc động khi nói rằng: "Tôi biết anh chàng người Pháp đó đã thay đổi cuộc sống bóng đá của tôi." Và khi Cantona đang thu hút được sự quan tâm của các trang báo thì cũng là lúc Hughes có được bàn thắng thứ 100 của mình trong trận gặp Crytal Palace giúp cho Ferguson có được danh hiệu Premiership đầu tiên cho mình.

Có lần Sir Alex nói: "Hughes là cầu thủ của những trận đấu lớn tuyệt vời nhất mà tôi đã từng biết," đặc biệt là trận bán kết FA Cup 1994 với Oldham khi cú vô-lê ở những phút bù giờ của ông đã cứu nguy cho United khỏi một thất bại đầy bất ngờ trên sân Wembley. Quỷ Đỏ đã đánh bài Oldham trong trận đá lại và tiếp tục hạ gục Chelsea 4-0 trong trận chung kết - Hughes cũng là người ghi bàn thắng thứ 3 giúp cho CLB có được cú đúp đầu tiên trong lịch sử.

Vào tháng 1 năm 1995, Hughes đã ký hợp đồng với đội bóng yêu thích từ thuở nhỏ của mình là Chelsea, nhưng điều đó không có nghĩa là những ngày vinh quang của ông đã kết thúc. Ông đã giành được huy chương FA Cup thứ 4 và European Cup Winners Cup thứ 2 với đội bóng áo xanh này, và tiếp tục sự nghiệp thi đấu của mình với Southampton, Everton, sau đó là Blackburn, nơi ông đã có được huy chương cuối cùng trong sự nghiệp cầu thủ của mình - League Cup - trước khi treo giầy ở tuổi 38.

Chính trong thời gian ở Southampton, Hughes đã bắt đầu có những bước đi đầu tiên trong sự nghiệp huấn luyện khi dẫn dắt đội tuyển quốc gia xứ Wales theo một bản hợp đồng bán thời gian.

Ông đã tạo nên một chiến thắng nổi tiếng trước Italy và gần như đã đưa được Wales đến với Euro 2004, trước khi trở lại Ewood Park đảm nhận vai trò hiện tại là HLV chính thức của Blackburn.

8.Bryan Robson
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-3.jpg

Ngày sinh: 11/01/1957
Ngày ký hợp đồng: 05/10/1981
Trận đấu ra mắt: 07/10/1981 gặp Spurs (A) tại League Cup
Tổng số bàn thắng: 98
Tổng số lần khoác áo: 461
Vị trí: Tiền vệ
Ngày rời United: 31/05/1994
Quốc tịch: Anh

Đó chính là một đỉnh cao chói lọi đối với mùa giải vô địch FA Premier League 1992/93 của United khi Bryan Robson ghi được bàn thắng cuối cùng của mùa giải đem về chiến thắng 2-1 trước Wimbledon tại Selhurst Park.

Nhưng từ sáu ngày trước đó, "Thủ quân Tuyệt vời" của United đã nhận danh hiệu vô địch Premier League cùng với Steve Bruce, khi mà mùa giải 1992/93 hạ màn trên sân Old Trafford với lễ trao Cup, và thời kì 26 năm ròng rã không có nổi chức VĐQG nào của Quỷ Đỏ cuối cùng cũng chấm dứt.

Những vấn đề về lưng và gân kheo đã phá hoại mùa giải của Robson, nhưng vẫn với phong cách điển hình, ông đã chiến đấu ngoan cường để giành lại vị trí của mình. Quả thực, những chấn thương khác nhau đã hạn chế rất nhiều về sự nghiệp nổi bật của ông cho CLB lẫn ĐTQG, đến nỗi mà nhiều lúc báo chí đã khuyên ông nên "nghỉ ngơi an dưỡng"! Đối với một cầu thủ quả cảm và quyết liệt như thế, thì có lẽ đó là cái giá phải trả không sớm thì muộn.

Trong những ngày đầu ở West Bromwich Albion, ba lần gẫy chân trong vòng một năm đã đe dọa nghiêm trọng đến tương lai của ông, nhưng với sự quyết tâm tuyệt vời, bằng cách nào đó, ông đã có được sự bình phục hoàn toàn.

Ông đã có gần 200 lần ra sân ở giải vô địch cho The Baggies, ghi được 39 bàn, khi tân HLV United Ron Atkinson quay trở lại CLB cũ của ông và trả một mức phí khoảng 2 triệu bảng để mang cả Robson lẫn Remi Moses về Old Trafford vào tháng Mười năm 1981. Bản hợp đồng đánh giá "Robbo" ở một mức giá chuyển nhượng kỷ lục thời đó là 1,5 triệu bảng.

Một số người đã tỏ vẻ nghi ngờ về sự khôn ngoan của Atkinson, nhưng số phận của Robson là trở thành một trong những tiền vệ vĩ đại nhất của môn thể thao này. Ông nhanh chóng trưởng thành, và thay thế Ray Wilkins trong vai trò đội trưởng CLB. Hai người đã có một sự hiểu nhau đến tuyệt vời và chính Ray là người đã giúp cho Bryan chững chạc hơn trong việc phán đoán trận đấu.

Với tầm ảnh hưởng tuyệt vời, Robson trong thời kỳ đỉnh cao của mình đã trở thành một viên ngọc quý, với khả năng chịu đựng dường như vô hạn, cùng với những kỹ năng chuyền bóng sáng tạo đến tuyệt vời trong cả tấn công lẫn phòng ngự, sự quyết liệt có chừng mực trong những pha xoạc bóng cộng thêm tốc độ thiên bẩm và khả năng đánh đầu cũng như sút bóng đầy uy lực.

Robson đã ghi được hơn 100 bàn thắng tính riêng cho giải vô địch trong suốt sự nghiệp của mình - rất nhiều những bàn thắng đó là từ những pha tận dụng sơ hở của đối phương ở cuối trận để lọt vào vòng cấm địa. Nhưng có lẽ trên tất cả, ông là một người đội trưởng đầy nhiệt huyết cho cả CLB lẫn đất nước, nổi bật là việc đưa United tới cú hat-trick FA Cup trong các năm 1983, 1985 và 1990. Ở trận chung kết đá lại năm 1983 gặp Brighton & Hove Albion, ông đã ghi được 2 bàn trong chiến thắng 4-0.

Ông cũng lọt vào chung kết League Cup năm 1991 và giành được huy chương Châu Âu khi ông được giương cao chiếc Cup Winners' Cup (Cúp C2) trong cùng mùa giải.

Robson đã có 90 lần khoác áo đội tuyển Anh, khoác áo "Ba chú Sư tử" trong ba kỳ World Cup. 26 bàn thắng quốc tế mà ông ghi được bao gồm một cú hat-trick vào lưới Thổ Nhĩ Kỳ năm 1984, và một bàn ở giây thứ 27 trong trận gặp Pháp tại World Cup España 1982, đó là bàn thắng nhanh thứ hai trong lịch sử World Cup.

Trong hai mùa bóng cuối cùng của mình, Robson chỉ xuất phát trong 15 trận Premiership, nhưng vẫn có những đóng góp đáng kể khi được dùng đến và thật khó có thể có một sự kết thúc sự nghiệp tuyệt vời hơn đối với ông khi được chứng kiến United hoàn thành cú đúp Premiership và FA Cup năm 1994.

Ngay sau khi tuyên bố sắp rời khỏi Old Trafford, Robson đã ngay lập tức được lựa chọn làm cánh tay phải của tân HLV trưởng đội tuyển Anh Terry Venables, và nhanh chóng có được một bản hợp đồng béo bở với Middlesbrough. Sau bảy mùa giải làm HLV ở đó, và sau một cuộc chiến trụ hạng thành công, Robson đã rời đi vào tháng Sáu năm 2001.

Sau đó, ông tái ngộ với CLB đầu tiên của mình, West Bromwich Albion, và cùng với CLB này, ông đã có một cú tẩu thoát đáng kinh ngạc khỏi xuất xuống hạng Premiership năm 2004/05 - trở thành HLV đầu tiên dẫn dắt một đội bóng đã đứng đội sổ ở kì Giáng Sinh "hạ cánh an toàn" trong lịch sử ngắn ngủi của Premiership.

Tuy nhiên, một năm sau, the Baggies bị rớt hạng xuống Championship. Họ đã có khả năng rất lớn giành suất thăng hạng lên Premiership, nhưng sau khi chỉ giành được 12 điểm trong 8 trận đầu tiên, Robson đã rời khỏi CLB với sự tán thành của đôi bên vào ngày 18/09/2006.

9.Gary Pallister
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-4.jpg

Ngày sinh: 30/06/1965
Ngày kí hợp đồng: 29/08/1989
Trận đấu ra mắt: 30/08/1989 gặp Norwich City (H) tại First Division
Tổng số bàn thắng: 15
Tổng số lần ra sân: 438
Vị trí: Hậu vệ
Ngày rời United: 01/07/1998
Quốc tịch: Anh

Một hậu vệ nhanh nhẹn với khả năng không chiến tuyệt vời và kỹ thuật điều khiển bóng tài tình ẩn chứa trong một thân hình "khổng lồ" (cao 1m93), Gary Pallister đã tạo nên một mẫu trung vệ hoàn hảo nhất trong lịch sử của CLB.

Cùng với Steve Bruce và bộ đôi Dolly và Daisy ở hai cánh, họ đã cùng nhau tạo nên một bộ tứ phòng tuyến vững chắc đánh lùi mọi đợt lên bóng của đối phương trong suốt 7 năm thi đấu đầy vinh quang. Sự có mặt của họ đã mang về cho United 3 danh hiệu Premiership (1993, 1994, 1996), 2 lần Á Quân, chiếc Cup C2 (UEFA Cup) và Siêu Cúp châu Âu năm 1991, 3 FA Cup (1990, 1994, 1996) và League Cup năm 1992.

Sinh ra tại vùng biển Kent ở Ramsgate vào tháng 6/1965, Pallister bắt đầu sự nghiệp của mình với CLB cấp huyện là Billingham Town và gia nhập Quỷ Đỏ từ CLB yêu thích của anh là Middlesbrough với giá £2.3 triệu vào tháng 8/1989 - một kỷ lục cho một hậu vệ người Anh lúc bấy giờ.

Được đưa vào trong một chương trình tập luyện nhằm cải thiện thể hình có phần ốm yếu của mình, mùa bóng đầu tiên của ông đã kết thúc ở vị trí thứ 13 - điều mà khó có thể chấp nhận được ngày nay. Nhưng sau đó là cả một chặng đường đầy vinh quang khi United chỉ duy nhất lọt ra khỏi Top 2 một lần trong 8 năm tiếp theo.

Là một hậu vệ chơi cực kỳ chắc chắn, Pallister luôn luôn được tín nhiệm giao cho một vị trí trong đội hình chính thức (ông chỉ vắng mặt 1 trận duy nhất trong khoảng từ năm 1992 đến 1995). Ông đã từng được bầu là Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất của năm 1992 và thật không may là ông không thể vượt qua cột mốc 22 lần khoác áo ĐTQG.

Sau 9 năm tại Old Trafford, 317 lần ra sân ở giải đấu cao nhất của nước Anh cùng với chức vô địch cuối cùng của ông vào mùa bóng 1996/97 ngay sau khi Bruce ra đi, vòng tròn sự nghiệp của Pallister đã được hoàn thiện khi ông trở về vùng Tây Bắc để gia nhập CLB khởi nghiệp của mình là Boro - khi đó là một "chú lính mới" của Premiership - vào năm 1998. Tính ra thì đây là một vụ làm ăn quá lời của United: tất cả những thành công cộng thêm £200.000!

Pallister giờ đây vẫn là một gương mặt quen thuộc ở Old Trafford khi thường xuyên xuất hiện trên MUTV như là một nhà bình luận. Và mặc dù ông sẽ được nhớ mãi như là một người ngăn chặn những bàn thắng, nhưng pha đánh đầu tung lưới Liverpool tại Anfield gián tiếp mang về chức vô địch kỳ diệu năm 1997 sẽ còn được nhớ mãi trong lịch sử của Quỷ Đỏ.

maradola
05-03-2008, 03:35 PM
10.Steve Bruce
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-5.jpg

Ngày sinh: 31/12/1960
Ngày kí hợp đồng: 17/12/1987
Trận đấu ra mắt: 19/12/1987 gặp Portsmouth (A) tại First Division
Tổng số bàn thắng: 51
Tổng số lần ra sân: 414
Vị trí: Hậu vệ
Ngày rời United: 01/06/1996
Quốc tịch: Anh

Tiền nào của ấy! Để có được Steve Bruce, một trung vệ có lối chơi cứng rắn và lăn xả, Alex Ferguson phải bỏ ra đến 825000 Bảng trả cho Norwich City - ngay trước sinh nhật lần thứ 27 của ông chỉ hai tuần vào tháng 12 năm 1987, đó là một trong những bản hợp đồng tốt nhất mà Manchester United đã thực hiện được.

Bruce đá cặp với Gary Pallister ở trung tâm hàng phòng ngự – bộ đôi này còn được gọi một cách trìu mến là “Dolly và Daisy” – ông là nhân tố quan trọng trong ba chức vô địch nước Anh (1993, 1994 và 1996), cũng như vô địch Cúp C2 (1991), Cúp FA (1994, 1996) và League Cup (1992). Thật khó có thể bình luận về hai bàn thắng muộn của Bruce – đó đều là hai pha bật cao đánh đầu – trong trận gặp Sheffield Wednesday giúp United vươn lên dẫn đầu trong cuộc đua đến chức vô địch Premiership 1992/1993 và từ đó giúp United thống trị giải đấu mới ra đời này (năm 1992 là năm đầu tiên giải Hạng Nhất Anh đổi tên thành Premiership).

Bruce tiến bộ liên tục, điều đó đã đưa ông lên đến đỉnh cao của sự nghiệp cầu thủ. Là một sản phẩm từ lò đào tạo nổi tiếng Wallsend Boy Club, nơi đã sản sinh ra những tài năng như Alan Shearer, Peter Beardsley hay bản hợp đồng mới đây của United Michael Carrick, ông chính là gương mặt tiêu biểu cho trường đào tạo tài năng trẻ đặt tại Newcastle. Bruce bị loại khi vừa 16 tuổi bởi chính người đã phát hiện tài năng của ông thời niên thiếu, tương tự là những CLB khác như Sunderland, Bolton Wanderers, Sheffield Wednesday và Southport vì ông bị cho là quá nhỏ con. Sau này, Bruce từng làm việc cho hãng đóng tàu tên là Swan Hunter như một tay thợ hàn mới vào nghề cho dù mới trước đó một tuần , ông đã ký một hợp đồng thử việc với Gillingham.

Khi vừa tròn 17 tuổi, ông đã chơi trận đầu tiên của sự nghiệp cho Gillingham ngay trong trận mở màn mùa giải 1979-1980. Bruce có hơn 200 lần ra sân trong màu áo CLB thành phố Kent trước khi Norwich chấp nhận bỏ ra 135000 Bảng để có được sự phục vụ của ông vào tháng 8, năm 1984. Tại Carrow Road, Bruce đã có được một chiếc huy chương vàng League Cup vào năm 1985 và chức vô địch giải Second Division Championship (giải hạng Nhất Anh thời kỳ đó) ngay mùa giải tiếp theo. Một điều đặc biệt là, với những thành công tại Old Trafford, Steve Bruce vẫn chưa bao giờ là một lựa chọn hàng đầu ở ĐTQG Anh, dù ông đã làm được điều đó khi còn chơi ở giải hạng B.

Năm 1996, Steve Bruce rời United khi chuyển sang thi đấu tại Birmingham City dưới dạng chuyển nhượng tự do. Sau chín năm gắn bó, ông có 414 lần ra sân, ghi được 51 bàn cho Quỷ Đỏ. Mùa giải 1990/1991, với những cú sút penalty chính xác Bruce đã kết thúc một năm thi đấu thành công khi trở thành một trong những cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho CLB với 19 bàn trên tất cả các mặt trận.

Năm 1998, ông bắt đầu sự nghiệp huấn luyện tại CLB Sheffield United trên cương vị cầu thủ-huấn luyện viên, sau đó là các CLB khác như Huddersfield Town, Wigan Athletic và Crystal Palace; hiện nay, ông là HLV của CLB Birmingham City. Sau 5 năm cầm quân tại CLB thành phố Birmingham, đến mùa giải 2006/2007, ông đã đưa đội bóng áo xanh giành quyền thăng hạng sau khi kết thúc mùa giải với vị trí thứ 2 ở giải League One. Hiện tại ông đang tìm kiếm những bản hợp đồng mới thật chất lượng để giúp Birmingham City trụ hạng thành công ở Premiership.

11.Peter Schmeichel
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-6.jpg

Ngày sinh: 18/11/1963
Ngày kí hợp đồng: 06/08/1991
Ngày ra mắt đội một: 17/8/1991 và Notts C (H) tại First Division
Tổng số trận giữ sạch lưới: 180
Tổng số bàn thắng: 2
Tổng số trận thi đấu: 398
Vị trí: Thủ môn
Ngày rời United: 27/05/1999
Quốc tịch: Đan Mạch

Peter Schmeichel là người ở bên ngoài câu hỏi "Ai là thủ môn xuất sắc nhất trong lịch sử của câu lạc bộ Manchester United?" Mặc dù trong thực tế việc so sánh từ xưa đến nay hay từ lúc câu lạc bộ thành lập đến bây giờ là rất khó khăn, tuy nhiên có thể nói "người Đan Mạch khổng lồ" hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu cao quý đó.

Sinh ra ở Gladsaxe, Đan Mạch, anh đã là một cổ động viên của United khi còn bé và thần tượng của anh là thủ môn ở thập niên 80: Gary Bailey. Anh bắt đầu chơi bóng ở một vị trí không một người hâm mộ nào có thể tin được, đó là vị trí tiền đạo, nơi của những chân sút hàng đầu hiện nay đang ngự trị. Nhưng tài năng của một thủ môn bẩm sinh thực sự đã trỗi dậy rất sớm, anh trở thành thủ môn chuyên nghiệp và chơi cho đội bóng địa phương rồi sau đó chuyển đến Brondby để được tham gia giải đấu cao nhất của Copenhagen.

Anh là một nhà vô địch trong việc cản phá các cú sút tầm xa, đặc biệt là hiếm khi bị thua từ ngoài vòng cấm địa trong sự nghiệp ở United. Không chỉ có vậy ,với những cú sút gần anh cũng thực sự có thể khống chế tốt. Theo các nhà phân tích thể thao, chiều cao và cơ thể đồ sộ của anh là một ưu thế trời cho và điều đó đã khiến anh có được lợi thế trong các pha cản phá.

Schmeichel mang lại sự tin tưởng không chỉ cho đồng đội mà cho cả các cổ động viên. Cũng như là trở thành một thủ môn tuyệt vời nhất, anh cũng là một người "ồn ào" nhất trên sân bóng. Anh luôn trút nỗi giận dữ lên đầu các hậu vệ, những người phối hợp với anh ở hàng phòng ngự nếu nghĩ họ mắc lỗi, giọng hét của anh có lẽ còn có thể giống như tiếng còi xuyên suốt nhắc nhở cả đội. Chính điều đó đã làm nên khả năng điều khiển hàng thủ của người khổng lồ Đan Mạch.

Alex Ferguson đã tìm thấy tiềm năng của một thủ môn hàng đầu thế giới và mang anh về Old Trafford tháng 8 năm 1991 với một cái giá là 500.000 bảng Anh. Một cuộc đầu tư sinh lời không thể đếm xiết của câu lạc bộ. Người đàn ông cao lớn này đã giải quyết những khó khăn đó và những thành tích tuyệt vời đến rất sớm: League Cup 1992, Premier League 1993, 1994, 1996, 1997. Và tuyệt vời nhất chắc chắn là cú ăn ba lịch sử năm 1999.

Anh quyết định rời nước Anh vào cuối mùa giải năm 1999 bởi vì với 60 trận liên tục không có nghỉ đông đã làm kiệt sức một thủ môn huyền thoại, và anh cũng đã bước sang tuổi 35, một lứa tuổi được coi là "hết hạn" với bóng đá đỉnh cao. Tuy đã rời xa sân cỏ, nhưng anh vẫn không từ bỏ bóng đá và quyết định trở thành một nhà bình luận thể thao.

Không có một cầu thủ nào có thể mong muốn có được những thành tích tốt hơn như vậy khi rời Quỷ Đỏ. Mọi người nói rằng Peter chắc chắn đáng được hưởng 12 điểm một mùa giải ở Manchester United. Anh là người cuối cùng của hàng phòng ngự, một hòn đá tảng góp công lớn xây dựng nên một đế chế hùng mạnh. Trong 9 năm, người đàn ông này đã là một phần trong hình ảnh của Man United. Bên cạnh những tên tuổi thành danh trên thế giới như Shilton, Zoff, Banks, Jennings và Yashin, Peter Schmeichel sẽ luôn luôn và mãi mãi được coi là một thủ môn xuất sắc nhất mà bóng đá thế giới đã từng sản sinh.

12.Eric Cantona
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-7.jpg

Ngày sinh: 24/05/1966
Ngày kí hợp đồng: 27/11/1992
Ngày ra mắt đội 1: 6/12/1992 gặp Man City (H)
Tổng số bàn thắng: 82
Tổng số lần ra sân: 184
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 18/05/1997
Quốc tịch: Pháp

Trong suốt 26 năm trước khi Cantona về Old Trafford, Manchester United không giành được chức vô địch nào. Trong 4 năm rưỡi thi đấu cho United, anh đã cùng đội bóng đoạt được 4 danh hiệu vô địch. HLV Alex Ferguson nói về công lao đóng góp của Eric cho đội bóng rằng: "Eric là động lực cho các giải vô địch, anh đã mang đến một khí thế mới mà chúng tôi đã không có trước đó. Mặc dù chúng tôi vẫn đang tiến lên nhưng nếu có anh, chắc chắn thì quá trình ấy sẽ nhanh hơn. Anh là 1 cầu thủ phi thường vì đã mang đến cho Old Trafford thành công như vậy".

Cantona là mẫu cầu thủ có duyên ghi bàn bất ngờ, luôn ở sau hàng tiền đạo và xuất thần ghi những bàn thắng quan trọng quyết định; vừa là linh hồn vừa là cầu thủ kiến thiết trận đấu. Anh đã được các CĐV Leeds rất tôn sùng khi còn chơi cho đội bóng này. Và ngay khi chuyển sang United, ngay lập tức anh trở thành huyền thoại trong lòng người hâm mộ. Cantona đã viết nên một chương mới trong lịch sử CLB với những nét son sáng chói, tạo niềm tin cho đồng đội rằng họ sẽ là những nhà vô địch trong tương lai - điều mà suốt 26 năm qua MU chưa thể thực hiện được.

Eric Cantona được sùng bái với một sự đam mê mà trước đó chỉ George Best mới có được. Đối với các cổ động viên trung thành thì anh là ông vua, thậm chí là chúa trời, người đã đưa United đến đỉnh cao và đã đem đến cho khán giả cái nhìn đầu tiên về một thiên tài bóng đá từ sau sự ra đi của George Best từ hơn hai thập kỉ trước.

Không chỉ là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, Cantona còn là một con người yêu thơ ca, nghệ thuật và triết học, những điều dường như không thích hợp với khuôn mẫu của một cầu thủ bóng đá. Với bề ngoài khó hiểu, nên anh luôn có biệt danh là "kẻ phiến loạn" và "kẻ tự do". Nhận xét của công chúng về Eric dựa trên những đoạn trích hiếm có bao gồm: "Khi chim biển theo đoàn thuyền đánh cá ra biển thì đó là vì chúng nghĩ cá sẽ được ném xuống biển". Những quan điểm này nói lên sự thông minh đồng thời ở anh cũng có sự tự phụ kiêu căng. Eric có những phẩm chất kì lạ và không dễ gì có được ở một cầu thủ ngôi sao.

Rất nhiều người hâm mộ của Man United vẫn còn nhớ như in cú kungfu như trong phim hành động vào Matthew Simmons - CĐV đội chủ nhà Crystal Palace - của "King Eric", nó đã khiến cả nước Anh và thế giới bàng hoàng. Tuy vậy, khi nhắc lại chuyện này, huyền thoại người Pháp vẫn khẳng định anh không hề ân hận, bởi đó là hành động phải làm của một người đã bị xúc phạm là "đồ con hoang". Thế nên, trong khi có người chỉ trích anh thì đối với rất nhiều fan hâm mộ, những câu chuyện như thế lại được thêu dệt như những hành động của các hiệp sĩ ngày xưa: Không chịu được trước những điều chướng tai gai mắt.

Dù đôi lúc có hơi ngang tàng và ngông nghênh, nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con người của Cantona cũng toát lên một phong thái khiến người ta phải nể phục. Chính vì điều này mà HLV Alex Ferguson đã khăng khăng đòi Martin Edwards, cựu Chủ tịch của United, đưa cựu tuyển thủ Pháp này về sân Old Trafford bằng mọi giá, bất chấp lúc bấy giờ tình hình tài chính của CLB cũng không được dư dật lắm.

Ngay cả khi Cantona không còn gắn bó với sân cỏ, tên tuổi của anh vẫn còn được nhắc đến với sự kính ngưỡng còn nguyên vẹn. Và dù chuyển sang làm điện ảnh, nhưng Cantona vẫn không thể từ bỏ được niềm đam mê trái bóng tròn. Hẳn những CĐV của Man United còn vui sướng hơn nếu biết rằng, Cantona đã từng tâm sự anh sẽ cân nhắc tới khả năng trở lại Old Trafford với cương vị HLV trưởng CLB trong một tương lai không xa.

maradola
05-03-2008, 03:42 PM
13.David Beckham
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-8.jpg

Ngày sinh: 02/05/1975
Ngày kí hợp đồng: 23/01/1993
Trận đấu ra mắt: 23/09/92 gặp Brighton tại League Cup
Tổng số bàn thắng: 84
Tổng số lần ra sân: 348
Ngày rời United: 02/07/2003
Quốc tịch: Anh

Không phải giỏi nhất, nhưng David Beckham là cầu thủ nổi tiếng nhất, và cũng giàu có nhất trong thế giới bóng đá hiện đại. Trong các vận động viên thể thao, không có ai được thần tượng hoá đến cuồng nhiệt như anh, không có ai được nhắc đến hằng ngày trên mặt báo như anh.

Mỗi lần anh thay đổi kiểu tóc, mỗi lần anh đi shopping, tất cả đều trở thành những sự kiện thu hút sự chú ý… trên toàn cầu. Tại Manchester United, David Beckham không chỉ đơn thuần là một cầu thủ, anh đã trở thành một biểu tượng thể thao, cũng như một biểu tượng thương mại cực kỳ ăn khách trên khắp năm châu. Khuôn mặt điển trai hấp dẫn, hôn ước với cựu thành viên Spice Girls Victoria Adams, cùng lối sống rất xa xỉ kiểu siêu sao khiến anh đã lừng danh lại càng thêm nổi tiếng. Nhưng nổi tiếng quá cũng có cái hại, và trong mắt không ít người, Beckham đã trở thành một nhãn hiệu tiếp thị hơn là một cầu thủ bóng đá, những hoạt động quảng cáo, những cuộc tiệc tùng chưng diện đôi khi đã làm lu mờ cả các thành tích thể thao của anh. Cũng chính vì Beckham ở trên đỉnh cao danh vọng, nên bất kỳ một sai lầm hay thất bại nào của anh cũng trở thành mục tiêu soi mói, mổ xẻ, “bé xé ra to”. Có thể nói những lời ngợi ca dành cho anh thì quá nhiều, mà chỉ trích thì cũng không phải ít. Nhưng thôi, hãy cứ bỏ ngoài tai những chuyện thị phi, và chỉ chú tâm đến lĩnh vực chuyên môn, đến một Beckham cầu thủ.

Vâng, không cần tới những ánh hào quang hậu trường, Beckham vẫn là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử Man United. Ở vị trí tiền vệ cánh phải, khả năng kiến thiết bóng của anh phải gọi là… trên cả tuyệt vời. Những đường chuyền dài do Beckham thực hiện chính xác đến từng ly, và những cú lật bóng bên biên phải của anh luôn nguy hiểm chết người. Ở thời kỳ hoàng kim tại United, Beckham được coi là cầu thủ tạt bóng số một trên thế giới, mỗi lần anh tạt bóng là mỗi lần khung thành đối phương chao đảo. Bất kể là Cole, Yorke, Nistelrooy, hay một tiền đạo nào khác của United, ai cũng đều muốn chơi cùng Beckham, vì mỗi đường chuyền của Beckham thường tìm đến rất đúng chỗ của tiền đạo, chứ không bắt họ phải di chuyển để bắt kịp. Tỷ lệ chuyền bóng thành bàn của Beckham là cao nhất ở nước Anh. Bên cạnh đó, với không ít người, Beckham cũng là cầu thủ đá phạt hay nhất thế giới. Những cú sút xoáy vòng, đưa bóng vọt qua hàng rào phòng thủ đối phương rồi rơi đúng vào góc cao khung thành là một “sản phẩm độc quyền” của anh. Rất, rất nhiều lần anh đã ghi những bàn thắng tuyệt đẹp như thế.

Dĩ nhiên, là cầu thủ thường chẳng có ai hoàn hảo, điểm yếu của Beckham là kỹ thuật cá nhân không cao. Tuy thế, cũng không nên quá cầu toàn, có được kỹ năng chuyền bóng và sút phạt như anh cũng đã là quá đủ cho một tiền vệ.

David Robert Joseph Beckham sinh ngày 2 tháng 5 năm 1975 tại Leytonstone, London. Năm 1986, ở tuổi 11, anh giành giải nhất trong cuộc thi năng khiếu bóng đá nhi đồng mang tên Bobby Charlton Soccer Skills, và do đó lọt vào tầm ngắm của các nhà tuyển trạch Manchester United. Năm 12 tuổi, anh đã được ngài Alex Ferguson đánh giá là một ngôi sao tương lai. Có điều, do bị gia đình buộc phải học xong trung học, mãi đến năm 1991, Beckham mới ký hợp đồng tập sự cùng United. Ngày 23 tháng 9 năm 1992 đánh dấu lần đầu tiên anh được chơi ở đội lớn, khi ra sân với tư cách cầu thủ dự bị trong trận gặp Brighton. Tuy nhiên, phải đợi tới 2 năm sau, Beckham mới lần đầu được ra quân trong đội hình chính thức của Quỷ Đỏ, trong trận gặp Galatasaray vào tháng 11-1994.

Sau trận ra quân ấy, Beckham chuyển tới Preston North End theo hợp đồng cho mượn. Anh thi đấu 5 trận tại đây trước khi trở về Old Trafford vào tháng 4-1995. Trận gặp Leeds cùng tháng đó chính là trận đầu tiên anh chơi đủ 90 phút ở giải Ngoại Hạng. Sang đến năm 1996, sau sự ra đi của Andrei Kanchelskis, Beckham được ngài Ferguson tín nhiệm giao trấn giữ hành lang phải, dù vị trí ưa thích của anh là tiền vệ trung tâm. Anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, và góp công đưa United giành cú đúp VĐQG cùng cúp FA. Trong trận bán kết cúp FA gặp Chelsea, chính Beckham là người ghi bàn gỡ hoà.

Beckham thật sự vươn lên hàng ngũ siêu sao trong mùa 1996-1997, sau bàn thắng “không tưởng” từ cú lốp bóng với cự li... 55m tung lưới Wimbledon. Cho đến nay, đây vẫn là bàn thắng đẹp nhất trong sự nghiệp của anh. Mùa bóng tiếp tục với Beckham cùng những màn trình diễn tuyệt vời và những cú sút xa ngoạn mục. Phần thưởng cho anh là danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất Nước Anh, cùng chức VĐQG lần thứ 2 liên tiếp. Cũng năm 1997, anh bắt đầu quen Victoria Adams, nhờ Adams, Beckham bắt đầu nổi tiếng trong ngành công nghiệp giải trí, và nhờ Beckham, Adams được biết đến nhiều hơn trong lĩnh vực thể thao. Danh tiếng của cả hai đều được nâng cao nhờ mối tình lãng mạn.

Sau mùa bóng 1998 đầy thất vọng, Beckham đạt đến đỉnh cao phong độ của mình. Chưa bao giờ anh lại chơi hay như mùa 1998-99, và từ đó đến nay, phong độ ấy vẫn chưa lập lại. Danh hiệu Vua Đá Phạt của Beckham được khẳng định với hàng loạt các cú sút siêu đẳng vào lưới Leicester, Aston Villa, Barcelona, Brondby, và Everton. Những bàn thắng quan trọng của United trước Inter Milan, Liverpool, và Barcelona đều xuất phát từ những đường kiến thiết của anh. Đích thân Beckham cũng ghi những bàn quan trọng từ các pha bóng sống, chẳng hạn như bàn thắng trong trận bán kết cúp FA với Arsenal, hay trong trận quyết định ngôi VĐQG với Tottenham. Trong lần gặp gỡ không thể nào quên với Bayern Munich ở chung kết Champions League, cả 2 bàn thắng Quỷ Đỏ ghi được đều xuất phát từ các quả phạt góc do Beckham thực hiện. Năm 1999 kết thúc với Beckham và Man United trên đỉnh cao của thế giới, cùng 4 danh hiệu VĐQG, Cúp FA, Champions League và Cúp Liên Lục Địa. Beckham là ứng viên nặng ký cho danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Thế Giới của FIFA và Xuất Sắc Nhất Châu Âu của France Football, nhưng đáng tiếc là 2 lần đều phải về nhì, sau Nghệ Sỹ Sân Cỏ Rivaldo.

Mùa 1999-2000 khởi đầu thất vọng cho Beckham. Bất hoà với HLV Ferguson làm dậy lên những tin đồn về việc chuyển nhượng của anh sang Barcelona, Inter Milan, và thậm chí cả Arsenal. Nhưng sau khi giảng hoà cùng ngài Alex, Beckham lại trở về với phong độ vốn có, và những quả đá phạt chết người lại được tung ra vào lưới Croatia Zagreb, Leicester, West Ham và Southampton. Trong những năm cuối ở United, những đường chuyển của Beckham bớt phần sắc sảo, nhưng bù lại, anh ghi bàn nhiều hơn. Đặc biệt trong mùa 2001-02, anh ghi được đến 16 bàn, trong đó có cú sút xa 30m tuyệt đẹp vào lưới Deportivo, và cú lốp bóng 25m qua đầu D James của West Ham. Trong năm 2001, lần thứ 3 liên tiếp Beckham giành danh hiệu VĐQG cùng United.

Ngoài ra, thành công lớn mà anh đạt được trong màu áo đội tuyển quốc gia là việc được Sven Goran Eriksson lựa chọn làm đội trưởng đội tuyển quốc gia Anh vào tháng Một năm 2001. Đó là vai trò mà Beckham đã đảm trách với một niềm tự hào và sự nhiệt tình vốn có của mình và cùng với đó là một loạt những bàn thắng quan trọng cho đội tuyển nước nhà. Anh đã ghi được một bàn thắng đẹp mắt trong trận gặp Hà Lan tại Anfield vào tháng Ba, rồi, sau khi ra mắt kiểu tóc mới nổi đình nổi đám với cái tên Mohican, anh đã ngay lập tức có được bàn thắng tuyệt đẹp từ pha đá phạt vào lưới đội tuyển Mexico hồi tháng Năm và tiếp theo đó, cũng từ một tình huống cố định, anh đã làm tung lưới đội tuyển Hy Lạp một tháng sau đó. Chính tại Old Trafford, trong trận gặp lại Hy Lạp vào tháng Mười 2001, anh đã trở thành một người anh hùng dân tộc thực sự. Đội tuyển Anh lúc ấy đang bị dẫn với tỉ số 2-1 và chính nhờ có pha sút phạt phút cuối huyền thoại mang về tỉ số hòa 2-2 - đồng nghĩa với tấm vé vào VCK World Cup 2002 - cho đội bóng đến từ xứ sở sương mù. Hình ảnh người đội trưởng Beckham luôn nỗ lực trong từng pha bóng và hoạt động hết mình trong suốt trận đấu sẽ luôn sống mãi trong ký ức của mọi người.

Nhưng rồi những chuyện hậu trường có lẽ đã làm Beckham xao lãng mất bóng đá. Hết lo xuất bản tự truyện, xuất hiện trên truyền hình, anh lại lao vào đóng quảng cáo cho Adidas và Pepsi. Trong những chuyến du đấu cùng ManU ở châu Á, Beckham được chào đón không thua gì The Beatles, nhưng phong độ anh đã không còn được như xưa. Trong nửa cuối mùa 2001-02, HLV Ferguson nhiều lần để anh trên ghế dự bị. Rồi những chấn thương liên tiếp vào các năm 2002, 2003 khiến Beckham càng ít xuất hiện trong màu áo đỏ hơn. Thêm vào đó, mâu thuẫn giữa anh và Ferguson lại bùng nổ. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào tháng 2-2003, khi ngài Alex sút chiếc giày vào mặt Beckham sau trận ManU thua Arsenal 0-2. Câu chuyện này lập tức trở thành tâm điểm của báo giới, và ai cũng dự đoán việc Beckham rời Old Trafford chỉ còn là vấn đề thời gian. Quả nhiên đến tháng 7 cùng năm, Beckham chuyển đến Real Madrid với giá 24.5 triệu bảng. Tuy nhiên, mùa bóng đầu tiên của anh tại Madrid không thành công cho lắm. Hiện tại anh đã đầu quân cho CLB Mỹ LA Galaxy với một bản hợp đồng có thể lên tới 128 triệu bảng sau khi cùng với đội bóng hoàng gia Real Madrid giành được danh hiệu vô dịch La Liga đầu tiên kể từ khi đến TBN.

Sự nghiệp bóng đá của Becks là cả một câu chuyện dài mà không phải cầu thủ nào cũng có được - đắng cay, thất bại, gục ngã, thành công, vinh quang... Mặc dù không thể sánh ngang cùng với George Best, Bryan Robson, Eric Cantona hay Roy Keane, nhưng David Beckham vẫn sẽ luôn được xem như một huyền thoại của Manchester United. Anh đã đóng góp rất lớn vào thành công của CLB trong vòng 10 năm qua nhờ những đường chuyền, lòng quyết tâm, những quả đá phạt, những bàn thắng và nhờ việc có được niềm đam mê của một cổ động viên thực thụ dành cho CLB - một điều mà rất nhiều những cầu thủ hiện đại không có được.

United vẫn vững bước với những người hùng mới và những cuộc phiêu lưu mới nhưng chúng ta sẽ luôn nhớ về chàng trai trẻ đã từng trải qua lò đào tạo trẻ của sân Old Trafford để rồi sau đó trở thành cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất hành tinh. Beckham đã gắn bó với Quỷ Đỏ trong giai đoạn vinh quang nhất trong lịch sử CLB cho tới thời điểm này và đó cũng là thời kỳ đẹp nhất trong sự nghiệp thi đấu của bản thân anh. Anh có thể trở thành một biểu tượng của toàn cầu, nhưng con người khoác trên mình chiếc áo đỏ của Manchester United - David Beckham "cầu thủ" - mới là hình ảnh sẽ được nhớ đến nhiều nhất.

13.Ruud van Nistelrooy
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-9.jpg

Ngày sinh: 01/07/1976
Ngày kí hợp đồng: 23/04/2001
Trận đấu ra mắt: 12/08/2001 gặp Liverpool (N) tại Charity Shield
Tổng số bàn thắng: 150
Tổng số lần ra sân: 220
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 28/07/2006
Quốc tịch: Hà Lan

Là một tay săn bàn có hiệu suất cực cao, thành tích ghi bàn chói lọi của Ruud van Nistelrooy đã đảm bảo cho anh chỗ đứng trong lịch sử truyền thống của United.

Tiền đạp Hà Lan ghi 100 bàn trong 3 mùa đầu tiên tại Manchester. Anh đoạt được danh hiệu tay ghi bàn vĩ đại nhất của United trong lịch sử cúp Châu Âu của huyền thọai Dennis Law vào mùa bóng thứ tư của mình, và cuối mùa bóng thứ năm tại Old Trafford, anh đã đạt đến mốc 150 bàn trong chưa tới 200 lần xuất phát chính thức.

Tuy vậy, ban đầu United đã phải rất kiên nhẫn để có anh. Ruud đánh dấu sinh nhật thứ 22 của mình bằng việc ký hợp đồng trị giá 4,2 triệu bảng với PSV Eindhoven từ Heerenveen, một kỷ lục chuyển nhượng giữa các CLB Hà Lan ở thời điểm đó.

Bàn thắng đầu tiên anh ghi được cho PSV là trận đấu với CLB cũ của anh vào tháng 8/1998, và tháng 11 cùng năm anh được gọi vào tuyển quốc gia trong trận hoà 1-1 với Đức. Trong 2 mùa sau Ruud ghi 60 bàn cho PSV, và việc đó đã thu hút sự chú ý của các CLB hàng đầu Châu Âu, trong đó có United và Real Madrid.

Sir Alex đã rất quyết tâm để có được van Nistelrooy. Hơn thế nữa, ông đã giữ liên lạc với Ruud trong một năm – thời gian cầu thủ này hồi phục chấn thương dây chằng mà anh gặp phải trong khi tập luyện với PSV. Quá trình này xảy ra nhiều ngày sau khi việc kiểm tra y tế với United vào tháng 4/2000 gặp thất bại. Sau sự hồi phục chấn thương đáng chú ý, cuối cùng Quỷ đỏ đã có sự phục vụ của anh vào ngày 23/4/2001 với giá 19 triệu bảng.

Ruud ghi 36 bàn trong mùa đầu tiên, một thành tích “dễ sợ” vốn sau đó được lặp lại một cách đáng ngạc nhiên trong mùa giải 2002/2003 khi anh 44 lần chọc thủng lưới đối phương để đưa United đến chức vô địch Premiership. 30 bàn nữa được ghi trong mùa giải thứ ba của anh.

Chấn thương đã phá hỏng mùa bóng 2004/2005 của anh, tuy vậy, anh vẫn kịp ghi 16 bàn trong 27 lần ra sân và trở thành vua phá lưới Champions League với 8 bàn thắng.

Mùa giải 2005/2006 cũng song hành với sự thất vọng. 10 bàn trong 12 trận đánh dấu khởi đầu tuyệt vời của Ruud. Đến tháng 12, anh ghi 17 bàn trong 26 trận ra sân. Nhưng sự hồi phục thể lực lẫn phong độ của Loius Saha khiến Ruud mất suất chính thức.

Anh đã không được tung ra sân từ ghế dự bị trong trận chung kết Carling Cup, không có tên trong danh sách ra sân trận gặp Charlton trong ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải với việc Sir Alex nói rằng những vấn đề xung quanh “tinh thần của đội bóng” là lý do Ruud bị ngồi ngoài.

Tiền đạo người Hà Lan rời khỏi Old Trafford vào mùa hè năm 2006 và tiến thẳng tới Tây Ban Nha đầu quân cho đội bóng hoàng gia Real Madrid.

maradola
05-03-2008, 03:47 PM
14.Ole Gunnar Solskjaer
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-10.jpg

Ngày sinh: 26/02/1973
Ngày ký hợp đồng: 29/07/1996
Trận đấu ra mắt: 25/08/1996 gặp Blackburn (H) tại Premiership
Tổng số bàn thắng: 126
Tổng số lần ra sân: 366
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United:
Quốc tịch: Na Uy

Sự trở lại của Ole Gunnar Solskjaer trong trận hòa Birmingham 2-2 vào tháng 12/2005 giúp cho mùa bóng 2005/06 của Manchester United bớt ảm đạm đi rất nhiều.

20 tháng dài đằng đẵng vật lộn với chấn thương đầu gối tưởng như đã làm cạn tất cả mọi hy vọng được trở lại khoác màu áo đỏ của tiền đạo người Na Uy, thế nhưng rồi cuối cùng Solskjaer cũng trở lại. Sự xuất sắc của hàng tấn công Quỷ Đỏ kể từ đó cũng hạn chế nhiều sự góp mặt của Ole trong nửa cuối của mùa giải 2005/06, nhưng dù sao đi chăng nữa, ác mộng cũng đã đi qua với anh - một tượng đài của sân Old Trafford.

Nickname trìu mến "sát thủ với gương mặt trẻ thơ" tại sân Old Trafford đã nói đủ những gì nổi bật nhất về Ole Gunnar Solskjaer. Dù hơn 300 lần ra sân trong màu áo Man United, nhưng quá nửa trong số đó đến từ ghế dự bị, anh vẫn ghi được tới hơn 100 bàn thắng - đó cũng là lí do tại sao anh còn được gọi là "siêu dự bị". Chính siêu dự bị có mái tóc xoăn này đã đưa về cho sân Old Trafford chiếc Cup vô địch châu Âu thứ 2 trong lịch sử CLB, sau hơn 30 năm chờ đợi. Anh là tác giả bàn thắng lịch sử ở những giây cuối cùng trong trận chung kết Champions League năm 1999 trên sân Nou Camp, đánh dấu cuộc lội ngược dòng vĩ đại trước Bayern Munich.

Cái tên "siêu dự bị" Ole Gunnar Solskjaer còn gắn với lịch sử Man United bởi một kỳ tích khác - ghi liền 4 bàn sau khi vào sân từ ghế dự bị vào lưới Nottingham Forest ở mùa giải 1997/98, góp phần vào chiến thắng trên sân đối phương kỷ lục 8-1.

Trong thời gian chấn thương, Ole Gunnar Solskjaer đã hoàn thành khóa học huấn luyện nhằm phục vụ cho tương lai lâu dài. Sau 10 năm gắn bó với United kể từ khi rời quê hương năm 1996, anh vẫn được coi là một thành viên quan trọng của đội bóng, minh chứng bằng bản gia hạn hợp đồng kéo dài thêm 2 năm ngay sau khi anh bình phục chấn thương. Theo như anh tâm sự, sau khi treo giày, anh sẽ sẵn sàng đảm nhận một vị trí trong đội ngũ đào tạo tài năng trẻ của Manchester United.

15.Andy Cole
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-11.jpg

Ngày sinh: 15/10/1971
Ngày kí hợp đồng: 12/01/1995
Trận đấu ra mắt: 22/01/1995 gặp Blackburn (H) tại Premiership
Tổng số bàn thắng: 121
Tổng số lần ra sân: 275
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 29/12/2001
Quốc tịch: Anh

Thành công không phải lúc nào cũng đến ngay tức khắc - và bất cứ người yêu mến Quỷ Đỏ nào đã từng mong muốn Alex Ferguson thuyết phục được Stan Collymore của Nottingham Forest về vị trí tiền đạo mới trong kỳ chuyển nhượng mùa bóng 1995 đều không thể không tỏ ra thất vọng về Andy Cole.

Một khởi đầu không thực sự thuận lợi cho sự nghiệp của anh ở Old Trafford trong trận đấu ra mắt, nhưng ngay sau đó tiền đạo sinh ra tại Nottingham đã kịp thời chứng tỏ giá trị của mình khi liên tục nổ súng với tỉ lệ trung bình hai trận đấu/một bàn, một hiệu suất cao chưa từng thấy ở "Nhà hát của những giấc mơ" kể từ thời kỳ vàng son của Denis Law. Và tất nhiên vấn đề chỉ là thời gian mà thôi. Phong độ là nhất thời, đẳng cấp mới là mãi mãi.

Cole trước đó đã rất nổi bật ở St. James' Park khi ghi đến 68 bàn chỉ trong 74 trận bao gồm cả 41 bàn trong mùa giải 93/94. Một khi anh đã ra sân và cất những bước chạy, sự hỗ trợ từ Cantona, Ryan Giggs và Sharpe khiến anh chơi bóng như một giấc mơ. Cole thực sự đáng giá từng xu mà CLB đã bỏ ra trong bản chuyển nhượng kỷ lục thời đó, £6.25 triệu.

Mùa bóng đầu tiên đó đã chứng kiến Cole ghi đến 5 bàn trong trận thắng 9-0 trước Ipswich Town tại Old Trafford - một kỷ lục ghi bàn của cá nhân cũng như của một đội bóng ghi được trong lịch sử Premier League.

Andy Cole đã ghi được 11 bàn trong mùa giải 95/96 và cùng United có một mùa giải đáng nhớ khi đã "hớt tay trên" chiếc cúp vô địch từ những người đồng đội cũ tại Newcastle.

Mùa giải thành công tiếp theo là vào năm 1996/97, một mùa bóng bị cản trở bởi căn bệnh viêm phổi cũng như là hai vụ gãy chân. Rồi những ngày tháng tươi đẹp nhất của anh cũng đã đến với sự góp mặt của Dwight Yorke từ Aston Villa cho một mùa bóng 98/99 thần kỳ, một sự thật đã không thể khác hơn.

Cole và Yorke đã thật sự bùng nổ khi được chơi cùng nhau. Họ đã ghi được 35 bàn tại Premier League khi "cơn bão" United không chừa một ai trên con đường đến "cú ăn ba" của họ. Một Dwight Yorke khỏe và đầy mưu mẹo, một Andy Cole nhanh nhẹn và sỡ hữu một khả năng săn bàn xuất sắc đã tạo nên một sự ăn ý tuyệt vời mà điểm nhấn chính là chiến thắng 8-1 tại Nottingham Forest vào tháng 2/1998 - đây cũng là trận đấu mà Ole Gunnar Solskjaer đã có được 4 bàn thắng sau khi vào sân từ băng ghế dự bị.

Tuy nhiên, khi khoác lên mình chiếc áo ĐTQG, Andy Cole lại không thể tỏa sáng như trong màu áo Quỷ Đỏ. Thật sự vẫn còn những nghi ngờ về việc Andy có phải là một trong những tiền đạo hay nhất của CLB cũng như của bóng đá hiện đại hay không. Hiện tại, anh vẫn tiếp tục ghi những bàn thắng đẹp mắt ở Manchester City sau những khoảng thời gian ngắn lưu lạc tại Blackburn và Fulham.

maradola
05-03-2008, 03:50 PM
17.Sir Bobby Charlton
http://i246.photobucket.com/albums/gg83/songoku888/images-13.jpg

Ngày sinh: 11/10/1937
Ngày kí hợp đồng: 01/06/1953
Trận đấu ra mắt: 06/10/1956 gặp Charlton (H) tại First Division
Tổng số bàn thắng: 249
Tổng số lần ra sân: 759
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 01/05/1973
Quốc tịch: Anh

Chưa một ai là hiện thân cho những giá trị của Manchester United tuyệt vời hơn Sir Bobby Charlton. Sống sót từ tai họa thảm khốc tại đường băng Munich khi mới chỉ 20 tuổi, ông đã chơi bóng như thể mọi trận đấu đều là để tưởng niệm cho những người đồng nghiệp đã khuất của mình, vượt qua những chấn thương để vươn tới những đỉnh vinh quang của cả CLB cũng như của đất nước.

Trong sự nghiệp 17 năm thi đấu cho United, ông đã lập một kỷ lục với 754 trận đấu, ghi được 247 bàn. Dường như những thành tích vĩ đại của ông sẽ khó có ai có thể bì kịp. Bất chấp mọi sự mời mọc, vẫy gọi của các CLB trên toàn quốc, Charlton trẻ tuổi - cháu của tiền đạo Newcastle United vĩ đại Jackie Milburn - vẫn quyết tâm trung thành với màu áo đỏ khi chuyển sang ký hợp đồng chuyên nghiệp cho United vào tháng 10 năm 1954 và ngay lập tức giành được FA Youth Cup vào năm 1954, 1955 và 1956.

Trận ra mắt đội 1 của ông đến vào ngày 6/10/1956 gặp Charlton tại Old Trafford và anh chàng trẻ tuổi này ngay lập tức đã tạo được ảnh hưởng của mình khi ghi được 2 bàn thắng cùng với một chấn thương. "Ông Busby hỏi tôi rằng tôi có ổn không," Sir Bobby hồi tưởng lại. "Thực sự thì tôi đã bị bong gân mắt cá chân, nhưng tôi không muốn thừa nhận điều đó và tôi chắp tay lại và nói 'có'."

Nhưng cho dù đã có màn ra mắt ấn tượng, Charlton vẫn không thể có được một vị trí thường xuyên trong đội hình cho tới giai đoạn sau của mùa bóng 1956/57 được đánh dấu bằng 10 bàn thắng khi Busby Babes giành được danh hiệu vô địch đầu tiên. Cuộc cạnh tranh một chỗ đứng trong đội hình 1 diễn ra vẫn rất quyết liệt, nhưng 1 cú hat-trick vào lưới Bolton Wanderers vào tháng 1 năm 1958 đã chứng minh được năng lực của ông, và Busby cảm thấy càng ngày càng cảm thấy khó khăn hơn khi gạt tiền đạo trẻ đầy tài năng này ra khỏi danh sách.

Một tháng sau, Charlton ghi được 2 bàn thắng trong trận hòa 3-3 của United trước Partizan Belgrade giúp Busby Babes có được một vé vào bán kết European Cup. Nhưng cũng đúng trên đường trở về thì tai họa đã xảy ra, và Charlton nằm trong số những người bị thương. Tuy vậy, vết thương của ông cũng tương đối nhẹ, vì vậy nên ông chỉ cần có 1 tháng để trở lại với sân cỏ. Charlton đã trở thành một thành phần cốt cán trong cuộc xây dựng lại sau thảm họa khi mà phần còn lại của đội bóng đều phải thiết lập lại từ đầu.

Việc được chuyển sang đá cắm đã khai thác được tất cả những điểm mạnh nhất của ông, và ông chính là người đã truyền cảm hứng khi mà United giành được các giải vô địch năm 1965 và 1967. Những thành công này đã chắp cánh cho những vinh quang cùng đội tuyển Anh. Ngay trước World Cup 1966, Charlton đã được nhận giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất của năm do hội đồng nhà báo tổ chức và liền sau đó là giải cầu thủ Châu Âu xuất sắc nhất năm. Ông tiếp tục tỏa sáng để cùng với đội bóng của Alf Ramsey giành được chức vô địch năm đó khi ghi được 2 bàn thắng trong trận thắng bán kết trước Bồ Đào Nha. Charlton tiếp tục có được thành tích 106 lần khoác áo đội tuyển quốc gia - trong đó 3 lần là đội trưởng - và vẫn đang là tay săn bàn hàng đầu trong lịch sử của nước Anh với 49 bàn thắng.

Mặc dù giành được chức vô địch World Cup được coi là thành tích danh giá nhất trong bóng đá, nhưng những giờ phút hoàng kim nhất của Charlton tại cấp CLB đến vào tháng 5 năm 1968 khi ông đưa United đến với chiến thắng tại European Cup. Sir Bobby đã ghi được 2 bàn thắng trong chiến thắng ở những phút đá hiệp phụ với tỉ số 4-1 trước Benfica tại Wembley. Đối với Charlton thì chuyến thắng này chính là lời động viên đối với cuộc tái xây dựng sau thảm họa Munich, thế nhưng ông đã bỏ lỡ bữa tiệc ăn mừng sau trận đấu để một mình đi tưởng niệm những người bạn đã khuất.

Sir Bobby tiếp tục cống hiến khi trở thành một phần trong bộ 3 nổi tiếng Best - Law - Charlton, một sự kết hợp của 3 trong số những tài năng lớn nhất trong lịch sử, trước khi trở về nghỉ hưu vào năm 1973. Ông đã có 2 năm làm HLV và cầu thủ kiêm HLV tại Preston North End trước khi từ chức vào tháng 8 năm 1975.

Ông đã có 1 khoảng thời gian ngắn ngủi chơi bóng cho Waterford tại Cộng Hòa Ai Len vào năm 1976 bước khi chấp nhận vào một vị trí trong BHL tại Wigan Athletic, nơi mà ông cũng chỉ gắn bó ít lâu trong vai trò HLV tạm thời ở mùa bóng 1982-83.

Vào tháng 6 năm 1984, Charlton trở thành giám đốc của Manchester United, vị trí mà ông vẫn gắn bó cho tới ngày hôm nay. Sau khi được trao tặng OBE (quan chức của đế quốc Anh) và CBE (sĩ quan thống lĩnh của đế quốc Anh), ông trở thành "Sir" Bobby Charlton vào tháng 6 năm 1994. Một đại sứ danh dự cho CLB của mình, cho bóng đá Anh và bóng đá toàn cầu, ông chính là đầu tàu, một cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của đội bóng thành Manchester.

thienthanqnd2005
06-03-2008, 10:08 AM
Ké tí đất:

Chỉnh sửa lại bài viết cho đẹp chú em. Có 1 vài hình ảnh minh họa nhìn sẽ hay hơn :D
Mỗi post chú chỉ cần giới thiệu 1 người là được, nhưng đầy đủ và trình bày đẹp là được.
Topic sẽ là bộ sưu tập yêu cầu không bàn bạc tại đây :|

MA_BU
06-03-2008, 04:24 PM
Tui thấy để xứng với chữ "huyền thoại" thì chỉ được 1 vài người ở trên thôi (góp ý tí thôi)

Tiếp chiêu :D

Sir Matt Busby

http://img84.imageshack.us/img84/3466/02mattbusby1dr.jpg

Tên đầy đủ : Matthew Busby
Ngày sinh : 26 tháng 5 1909
Nơi sinh : Orbiston, Glasgow
Thành tích của United dưới thời Busby 1945-1969 :
Trận Thắng Hòa Thua
Giải vô địch quốc gia 924 481 162 281
Cúp FA 98 61 17 20
Các cúp Châu Âu 58 35 11 12

Danh hiệu cho United :
Vô địch cúp FA 1948
Vô địch giải hạng nhất ( bằng ngoại hạng bây giờ ) 1952, 1956, 1957
Vô địch cúp FA 1963
Vô địch giả hạng nhất ( bằng ngoại hạng bây giờ ) 1965, 1967
Vô địch cúp C1 1968

Đằng sau phía Đông của Old Trafford có bức tượng của Ngài Matt Busby đứng đó. Nhiều người đi qua nó trong những ngày có trận bóng có thể ko nhận ra rằng nếu không có ông ta thì họ có lẽ đã không ở đây. Họ rất có thể đang cổ vũ cho 1 câu lạc bộ khác. . Những thành công của Ngài Alex Ferguson đã biến Manchester United trở thành người khổng lồ trong thế giới bóng đá hiện nay nhưng nó đã được dựng nên trên những nền tảng đã đi vào huyền thọai của Busby.
Busby là người đã biến Manchester United thành 1 cái tên nổi tiếng thế giới trong những năm 50. Ông ta đã thiết lập đội bóng 1 cách có tư tưởng, chơi bóng theo phong cách và triết lý, trong quá trình xây dựng 2 trong những đội bóng xuất sắc nhất nước Anh từ trước đến nay.

Sinh tại Orbiston, Lanarkshire, Busby đã là 1 huyền thoại được cắt ra từ chung 1 tảng đá với những huấn luyện viên huyền thoại người Scotland khác Bill Shankly, Jock Stein và tất nhiên là ngài Alex Ferguson.

Khi còn là cầu thủ ông đá vị trí trung vệ , được đá cho đội tuyển Scotland 1 lần vào năm 1933 và có 1 chức vô địch FA với Manchester City 1 năm sau đó. Thật mỉa mai là Busby đã đá cho những kình địch của United : Manchester City từ năm 1929 đến 1936 và Liverpool 1936 đến 1939. Sự nghiệp bóng đá củ ông đã phải kết thúc sớm bởi sự bùng phát của chiến tranh, khi mà ông phải phục vụ cho đoàn rèn luyện thể lực của quân đội.

Năm 1945 ở độ tuổi còn khá trẻ 36, ông đã được mời làm trong đội ngũ huấn luyện tại sân Anfield. Và thật may mắn là ông đã từ chối để nhận chức huấn luyện viên trưởng của Manchester United . Đó là 1 nhiệm vụ rất dễ gây chán nản bởi bởi lúc đó câu lạc bộ đang trong lộn xộn. Old Trafford đã bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn trong thế chiến thứ 2 và câu lạc bộ đang rất nghèo, chỉ có 1 chút thành công trong 15 năm trước và đang đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng giải hạng nhất ( ngang ngọai hạng bây giờ ).

Cũng công bằng khi ví Manchester United lúc đó như là Sheffield Wednesday hay Man City hiện tại. 1 câu lạc bộ lớn ở phía Bắc với tiềm năng nhưng chưa đạt thành công như mong đợi và ko thật sự được giúp đỡ bên ngoai hay được sở hữu ở ngoài thành phố của họ. United đã ko vô địch từ năm 1911, 1 khoảng thời gian 34 năm. Không thể phủ nhận Arsenal là câu lạc bộ mạnh nhất ở nước Anh những năm 30 với 4 chức vô địch giải hạng nhất.

Đội hình vĩ đại đầu tiên của Busby :

Busby chuẩn bị thay đổi mọi thứ. Ông luôn tin vào thứ bóng đá tấn công khoáng đạt, ông muốn đội bóng không chỉ thành công mà phải làm cả người xem phải cuồng nhiệt. Phương pháp này đã đặt nền móng cho phong cách chơi bóng của United ngày nay.

Đội bóng đã chơi tại sân Main Road trong 3 năm đầu tiên của ông tại đây bởi Old Trafford đã bị đánh bom trong chiến tranh. Trong khi sân vận động đang được xây dựng lại , đội bóng cũng được như vậy vào năm 1947, 1 chính sách lớn về cầu thủ trẻ đã được thiết lập và hệ thống tuyển trạch được mở rộng và tổ chức lại. Bằng kế hoạch khéo léo, mua bán hợp lý Busby đã tạo nên 1 đội hình tiến đến trận CK cúp FA năm 1948 và đánh bại Blackpool 4-2 .

Những người đã tạo nên 1 United vĩ đại trước chiến tranh Carey, Mitten, Pearson and Rowley. Từ thành công này và tiếp đó sau nhiều năm phải đứng thứ 2, United đã chiến thắng trong giải vô địch quốc gia 1952, ghi được hàng tá những bàn thắng trên con đường của họ.

Busby The Man :

Không giống như những người tiền nhiệm trước đó, Scott Duncan hay nhũng huấn luyện viên ở những giai đoạn khác nhau , Busby là 1 sự chuyển giao lớn với phương pháp quản lý hiện đại. Ông luôn thích mắc quần áo thể thao và huấn luyện cầu thủ trên sân tập, cách đó ông có thể truyền đạt ý tưởng trực tiếp đến các cầu thủ.

Hình ảnh của Busby luôn như là 1 người ông tận tình, nhân ái người luôn thích để trợ lý của mình là Jimmy Murphy làm công việc kỷ luật. Sự thật đó là hình ảnh của Busby với công chúng nhưng trong việc riêng ông ta có thể không khoan nhượng với bất kỳ ai..

Sẽ là ngây thơ nếu nghĩ 1 người nào đó với trái tim sắt đá có thể chiến thắng trong thế giới bóng đá khốc liệt này. Không giống như mọi người, ông ta luôn không ủng hộ việc tăng thêm quyền lực cho cầu thủ bằng lương hay thưởng. Trong khi ông rộng lượng với tài năng bướng bỉnh George Best thì ông lại trừng phạt rất nặng với các cầu thủ khác, điển hình là Charlie Mitten vì việc bước ra khỏi sân bóng ngầm chống lại uy quyền lãnh đạo của ông.

Những cậu bé của Busby và Munich :

Sau mùa giải 1952 thành công, Busby cảm thấy đội của ông đã mất sự sắc bén, sự bùng nổ và tinh tế đã không còn. Để cứu vãn ông đã có 1 quyết đinh rất nổi tiếng và có tác động manh mẽ đó là thay thế hầu hết các cầu thủ ở đội hình 1 bằng những cầu thủ trẻ triển vọng : Những cậu bé huyền thoại của Busby ra đời từ đây.

1 đội hình với phần lớn là cầu thủ trẻ đã làm mưa làm gió ở giải vô địch quốc gia, mang đến lạc quan với 1 luồng sinh khí trong sạch đến với nước Anh khắc khổ sau chiến tranh. Với những tài năng như Bobby Charlton, Duncan Edwards, Eddie Colman, Dennis Viollet, Tommy Taylor, Bill Foulkes và Jackie Blanchflower họ có đầy lòng say mê, tài năng và sức công phá. 2 chức vô địch quốc gia năm 1956 và 1957, Busby huyền ảo đưa United vào cúp Châu Âu C1.

Là câu lạc bộ đầu tiên làm vậy, Busby đã đúng khi nhìn ra giải đấu Châu Âu là tương lai của 1 câu lạc bộ , bất chấp sự phản đối của các câu lạc bộ trong nước. Ý kiến đó đã không được tán thành bởi tư tưởng hẹp hòi của 1 số tổ chức bóng đá lúc đó. Họ chẳng giúp gì United trong việc làm lịch thi đấu, có nghĩa là đội bóng đã luôn bị kìm nén với các trận đấu ở Châu Âu bằng rất ít sự chuẩn bị.

Sau khi quay về sau trận đấu tại cúp Châu Âu với Sao Đỏ Belgrade năm 1958, bi kịch đã xảy ra khi máy bay gặp nạn tại sân bay Munich, cướp đi rất nhiều sinh mạng của hành khách trên chuyến bay, bao gồm 8 cầu thủ và chấn thương nghiêm trọng với Busby. Đội bóng vô địch nước Anh 2 mùa trước đã gần như bị xóa sổ.

“Những cậu bé của Busby” tan rã, thế giới đã bị cướp mất những tài năng như Edwards và Taylor mãi mãi.Bi kịch đó đã có tác động sâu xắc đến người dân Anh thời đó. Munich không chỉ là thảm họa với Manchester United mà còn là 1 thảm họa quốc gia. Trong thời khắc tuyệt vọng đó, 1 làn sóng khổng lồ của lòng cảm thông và động viên đã dành cho United. Cổ động viên trên toàn thế giới giờ đã biết đến 1 đội bóng vĩ đại tại Manchester vừa bị cuốn đi. Những người vẫn dõi theo bước chân của đội bóng đã cảm thấy tồi tệ cho đội, nhũng người mà từ trước chưa theo United thì giờ đã có 1 vị trí quan trọng trong trái tim họ dành cho United.

Busby trở lại chinh phục Châu Âu :

Sau những hoài nghi về khả năng ông có thể tiếp tục, hồi phục sau chấn thương và chuẩn bị làm đội hình vĩ đại thứ 3 và vĩ đại nhất trong tất cả. Người có thể làm được những việc mà cục cưng của ông ta chưa bao giò làm được.. 1 lần nữa chính sách cầu thủ trẻ đã thiết lập và United đã khám phá ra tài năng của những Stiles, Brennan, Kidd và George Best xuất chúng.

Cùng với người sông sót sau thảm họa Munich Bobby Charlton, mua về Crerand và Denis Law, United đã sớm quay lại thời kỳ đỉnh cao vô địch cúp FA 1963 và 2 danh hiệu vô địch quốc gia 1965 và 1967. Chơi như những cục cưng trước đó, với phong cách, tài năng, sự tinh tế và tấn công đẹp mắt. Những năm 60 United của Charlton, Best và Law đã thu hút vô số các cổ động viên và là hình tượng của cổ động viên bóng đá toàn cầu.

Chiến thắng năm 1967 có thể là vết nứt cuối của chiếc cốc thiêng liêng mà chúa dùng trong bữa cơm tối cuối cùng, và vào tháng 5 ngày 29 năm 1968, đội hình vĩ đại nhất trong 3 đội hình của ông vô địch cúp C1 Châu Âu, đánh bại Benfica 4-1. Cả nước Anh đêm đó đã ở đằng sau United, mọi người đều muốn họ thắng để bù đắp nỗi đau Munich. Đây chính là thành tích vĩ đại nhất của Busby, đội bóng Anh đầu tiên chiến thắng tại giả đấu này, làm tan biến đi hết những bóng ma ám ảnh của Munich, bây giờ Manchester đã trở thành đế chế của 1 quốc gia.

Busby đuợc phong hiệp sĩ vào năm 1968 bởi những thành công ông đã đạt được, nghỉ hưu với cương vị là huấn luyện viên trưởng của United năm 1969, những vẫn tiếp tục điều hành đội đến năm 1971, Busby đã được vào ban lãnh đạo của đội. Thật buồn là sau đó, những người kế tục ông toàn sống dưới cái bóng của ông và ko thể đưa đội bóng lên 1 tầm cao như ông đã làm. Là những ngôi sao từ những năm 60 nghỉ hưu hay vẫn tiếp tục đá , họ đã không có sự kế tục xứng đáng.

Đội bóng đã xuống dốc rất nhanh và chính thức xuống hạng năm 1974. Chỉ 6 năm sau khoảnh khắc vĩ đại nhất, United lại quay trở lại thời kỳ của họ những năm 30. Và cuối cùng United đã quay lại con đường chiến thắng nhưng chưa ai có thể đạt gần đến thành tích của Busby cho đến tân năm 1986 khi một người Scotland khôn ngoan khác vượt qua biên giới của họ, tiến xuống phía Nam, Alex Ferguson. Busby trở thành chủ tịch câu lạc bộ năm 1982 có 1 vị trí cao trong liên đoàn bóng đá Anh.

Sự kết thúc :

Vào ngày 20 tháng 1 năm 1994, Busby qua đời ở tuổi 85, nhưng ông ta đã sông đủ đến khi thấy được 1 triều đại Quỷ Đỏ mới bắt đầu được tạo ra dưới tay ông. Ông ta đã có sự thoả mãn tột đỉnh khi là chủ chì của công cuộc phục hưng mà Alex Ferguson tạo ra cho United, chơi với phong cách, sự tinh tế điều mà ông rất yêu quí trong đội hình cũ của mình. United đã trở thành đội bóng hùng mạnh nhất trong nước 5 năm sau đó, vào ngày sinh nhật của ông năm 1999, họ đã có thành tích tốt hơn cả của ông năm 1968 với cú ăn ba C1, Ngoại hạng và cúp FA.

Những di sản của Busy là ông đã mang đến nền tảng vững chắc, triết lý, phong cách và niềm đam mê tất cả đã biến 1 câu lạc bộ bình thường ở vùng công nghiệp cằn cỗi phía Bắc nước Anh thành một trong những câu lạc bộ nổi tiếng nhất, quyến rũ nhất, giàu có nhất và ko phải bàn cãi : vĩ đại nhất trên thế giới. Ngài Matt Busby đã tạo ra truyền thuyết về Manchester United, và bởi lẽ đó, ông ta mãi mãi là huyền thọai trong lịch sử bóng đá thế giới.

Source : manutdzone.com

MA_BU
06-03-2008, 04:34 PM
Duncan Edwards

http://red11.org/mufc/images/player/edwardsd/dunc7.jpg

Quốc tịch Anh
Ngày sinh 1/10/1936
Số lần khoác áo 175
Số bàn thắng 21

"Mười phút đã trôi qua ,bàn thắng cũng chưa cũng chưa được ghi tại Highbury .Viollet đã nhận được bóng ,anh đã vượt qua người kèm mình và đang dần quay hướng tấn công về khung thành của Arsenal , anh cũng đã nhìn và chuyền một đường bóng sang cánh cho Morgan và bây giờ Edward đã gia nhập vào đợt tấn công ,Morgans đưa bóng tới Edwards ,Edwards chỉnh điều khiển bóng và sút...VÀO ! Đó là một bàn thắng tuyệt vời từ một cú sút sắc như "dao cạo" trong vùng cấm địa. Jack Kelsey không có cơ hội với cú sút đó,đó là điều tất nhiên....."

Edwards đã không biết rằng đó là trận đấu và bàn thắng cuối cùng của anh ấy ở giải đấu này và hơn trên hết là tình yêu dành cho Manchester United. Bốn ngày sau trận thắng nổi tiếng 5-4 trên sân Hyghbury, Edwards giúp United vào đến vào đến bán kết của cúp Châu Âu sau trận đấu lượt về đầy khó khăn 3-3 với câu lạcbộ "sao đỏ Belgradge".

Ngay ngày hôm sau, 6 tháng 2 năm 1958 chiến thắng lớn của "Bushy Babes" (đội quân của Sir Matt Bushy) đã biến thành thảm họa. Tai nạn thảm khốc trên bầu trời Munich đã cướp đi của thế giới bóng đá một dàn cầu thủ tuyệt vời, và 15 ngày sau đó có thể nói rằng United đã mất đi một cầu thủ một tài năng lớn nhất -Ducan Edwards.

Sau 46 năm và từ Manchester tới Madrid ,Edwards mãi mãi được nhớ đến. Nhưng sự trưởng thành của một cầu thủ được gán cho cái tên "The Tank" lại bắt đầu ở một tầng lớp bình dân ở Dubley thuộc Phía Tây Trung Du Nước Anh một trong những thị trấn được xem như là của chung "Black Country" nơi đã từng là thời hoàng kim của các ống khói từ các nhà máy trong một vùng công nghiệp lớn.

Ngày nay nhiều nhà máy đã đóng cửa khi sự sản xuất chuyển sang phần đóng tàu. Người khổng lồ trong các của hàng Merry Hill đã được xây dựng ở trung tâm của Dubley vào những năm của thập kỉ 1980 nhưng bây giờ nó chỉ được biết đến như là một nền tảng của "hustling & bustling". Tuy đã có nhiều thay đổi nhưng những con người mến khách và nhiệt tình này không thể nào quên và trong họ dường như còn tự hào vì nơi đây đã sản sinh một người con trai nổi tiếng nhất.

Ducan đã được sinh ra vào ngày mồng 1 tháng 10 năm 1936 với cha là Gladstone và mẹ Sarah. Họ cũng đồng thời có một con gái là Caorl Anne người mà ít hơn anh ấy 10 tuổi tuy nhiên cô bé đó đã mất sau 14 tuần. Ewards đã hoàn thành khóa học tiểu học của mình ở Priory và trường trung học cơ sở Wolverhamton Street nơi mà một chàng trai đã sớm bộc lộ tài năng với đôi chân to khỏe, tốc độ nhanh và những cú sút đầy uy lực.

Eric Booth,một giáo viên ở trường Parks và sau đó là thư kí của English School FA, đã đến vùng Dubley. Ông ấy đã đứng ra bảo trợ cho Ducans và đồng thời là huấn luyện viên cho anh.Edwards sớm trở thành người có thể trở chơi hai chân như nhau. Người giáo viên này sau đó đã viết thư cho một người bạn và thỏ lộ: "tôi đã nhìn thấy một cậu bé lớp 11 chơi bóng và sẽ có một ngày anh ta chơi cho đội tuyển Anh".

Nhưng bóng đá là một phần trong huyết quản của gia đình Edwards. Cha của Ducan chơi ở hàng hậu vệ cánh phải và anh trai của ông ta chơi ở cánh trái trong đội hình của câu lạc bộ trong vùng trong giải Cardlley Health League..và bác của ông cũng đã từng chơi cho Bolton và đội tuyển Anh vào thập niên 1930.

Phần lớn mọi người trong vùng đều tin tưởng rằng Duncan sẽ chơi cho đội bóng Wolves khi họ đã là một clb thành công và hơn thế nữa từ đội bóng về nhà của Ducan chỉ mất có 12 miles.Tuy nhiên,United đã có một hành động liều lĩnh khi ban huấn luyện đến nhà Edwards và đánh thức gia đình anh ấy dạy vào đúng 3ham để bảo đảm có bằng được chữ kí của Ducan.

http://red11.org/mufc/images/player/edwardsd/dunc5.jpg

Để rõ vì sao United lại có hành động như vậy như xin nghe câu chuyện sau:

Vào đầu mùa giải United đã có ý định kí hợp đồng với cầu thủ Alec Farrall, và nếu như vậy Ducan Edwards sẽ không bao giờ có cơ hội mặc chiếc áo số của MU? .Một ngày muộn của câu lạc bộ trợ lý huấn luyện viên Sir Jimmy Murphy đã nhắc lại một lần nữa với Sir Matt Bushy lúc đó đang là huấn luyện viên về sự tha thiết có được Farrall trong đội hình tấn công nhưng người bạn thân của Sir Joe Mercer huấn luyện viên ở trường nam sinh đã nói về một cậu bé với viễn cảnh và triển vọng tốt hơn nhiều.

"Cậu ta là cầu thủ tốt nhất trong trường quốc tế Nam Sinh" và "cậu ta sẽ trở thành người chiến thắng thế giới nếu tôi là người phán xử của các tài năng trẻ.Tên cậu ta là Duncan Edwards". Vì vậy Bushy cảm thấy háo hức một cách kì lạ,ông nghĩ mình cần phải gặp cậu bé và cha mẹ cậu ta những người mà có tầm ảnh hưởng không nhỏ trong vấn đề này.Và cuối cùng ông cũng đã rời nhà Edwards với một lời hứa của Duncan: "United là một một câu lạc lớn trên thế giới.Tôi mong muốn được chơi cho đội bóng của các ngài". Từ lời hứa của mình, Duncan đã từ chối hai câu lạc bộ mà đang tìm cách để có ông: Wolves và Bolton nơi là người họ hàng của Duncan đang chơi Dennis Steven.

Sir Murphy và Sir Bert Whalley là hai nhân vật đại diện cho United đã đến nhà Ewards đề giải quyết vấn đề kí hợp đồng này một cách trọn vẹn vào một buổi sáng khác. Đi xuống buồng ngủ của mình, Duncan nói United là câu lạc bộ duy nhất mà ông muốn chơi và đã kí một bản hợp đồng với họ ngay ở đó và sau đó chính thức ở văn phòng của United vào ngày 2/6/1952. Ông đã kiếm được £15 một tuần trong suốt mùa giải và giảm xuống còn £12 vào cuối mùa .

Trong suốt mua giải 1952/1953 ông chơi cho đội hình A bên cạnh là giải trẻ các câu lạc bộ trực thuộc trong hệ thống các giải đấu của Liên Đoàn, và là một một cầu thủ có vai trò chính trong trận thắng 23-0 với Nantwich ở FA CUP (giải trẻ), ông cũng ghi được 5 bàn trong trận này.Tuy nhiên vẫn chỉ là một cầu thủ nghiệp dư và mới chỉ 16 tuổi. Sau đó ông đã được đưa lên đội hình 1 và có trận đấu ra mắt đầu tiên ở sân Old Trafford với Cardiff City vào tháng 4 năm 1953. United đã có một cuộc trình diễn tệ hại và để thua đến 4-1 nhưng,cuộc ra mắt của Ducan được đánh giá là "...một cầu thủ mang lại tương lai sáng lạng dành cho United.." và vào tháng 10 năm 1953 ông đã kí hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp với Man Utd dưới sự huấn luyện của Sir Busby.

Trở thành cầu thủ được thi đấu thường xuyên trong màu áo câu lạc bộ "những con quỉ đỏ" và U23 tuyển Anh trước khi ông tổ chức sinh nhật lần thứ 18. Một năm sau đó ông trở thành tuyển thủ đội tuyển Anh (cầu thủ trẻ nhất trong thế kỉ 20 trước khi M.Owen kế bước), anh đã có buổi ra mắt trong trận thảm bại 7-2 của Scotland. Đó là lần đầu xuất hiện đầy đủ của 18 chữ cái.

Edwards cũng đủ tư cách để chơi 1/3 mùa giải ở đội trẻ trong giải FA cup và là nhân tố nổi bật trong việc giành danh hiệu cho "quỉ đỏ". Sự thành công của Duncan là quá tốt vì vậy đã có nhiều câu hỏi được đặt ra về một huyền thoại mới,và công bằng để có thể nói rằng trong suốt thời gian ở đội trẻ Edwards là người đứng đầu và là chỗ dựa vững chắc cho các đồng đội.

Ông nhanh chóng trở thành một trong các cầu thủ toàn diện nhất của Vương Quốc Anh với sức mạnh, uy tín lớn, và có thể lực ổn định.. ông cũng nhanh chóng có sự cân bằng hoàn hảo, có thể tấn công và dẫn bóng dài như một điều quá đơn giản. Ông cũng chơi rất tốt ở trên không, có một trong những cú sút được đánh giá là tuyệt nhất trong lịch sử United, là một người có nhiều may mắn cũng như sự khắc phục những hạn chế rất nhanh. Không chỉ là một cầu thủ nguy hiểm và linh hoạt trong vòng cấm địa, ông còn là một nhà tổ chức thực sự ở hai bên cánh.

Ewards chứng minh sự thành công của mình trong đội hình "Busby Babes",chiến thắng hai cúp ở ngoại hạng anh hay còn gọi là League champions, 2 Charity Shields cup, và một FA cup.Một điều không may, ông không thể thêm vào bộ sưu tập thành tích của mình thêm một chiếc cup nào nữa khi cùng 7 đồng đội ra đi mãi mãi trong vụ nổ máy bay kinh hoàng ở Munich. Mặc dù đã được tổ chức y tế ở nước Đức cố gắng cứu chữa nhưng sau 2 tuần từ vụ nổ, Ewards đã ra đi vào ngày 21/2/1958 mới chỉ 21 tuổi...

Ewards đã ra đi khi còn rất trẻ nhưng những gì về anh sẽ được giữ mãi trong tiềm thức của các cổ động viên những người luôn theo dõi những bước đi của câu lạc bộ.Một nhà tổ chức tuyệt vời nhất tuy nhiên đí không phải là tất cả ,điều hiển nhiên anh sẽ không bao giờ chết.

Một vài lời nhận định về Duncan của cac huấn luyện viên và những bình luận viên nổi tiếng:

Sir Matt Bushy: "một cầu thủ hòan hảo ở Vương Quốc Anh và thậm chí cả thế giới".

Nobby Stiles: "Ewards là một cầu thủ tuyệt vời nhất tôi đã từng xem.Nếu United bị dẫn trước anh ấy có thể chơi ở trung tâm hàng tấn công. Nếu United đang gặp phải sự tấn công quyết liệt anh có thể chơi ở trung tâm hàng tiền vệ. Anh ấy có thể làm được mọi thứ".

Sir Bobby Charlton: "Nếu tôi phải chơi cho cuộc sống của tôi và chỉ có thể chọn một người đi cùng, đó chỉ có thể là Duncan Edwards.Anh ấy là một cầu thủ tuyệt nhất tôi đã từng gặp".

Tommy Docherty: "Bạn có thể giữ những cầu thủ tuyệt vời nhất dành cho bạn: Best, Peles, Maradonas và Duncan Edwards".

Sir Bobby Robson: "Anh ấy chơi bóng đầu tiên là giống một người đàn ông - trên hết là một người rất tinh khôn. Duncan là một trường hợp đặc biệt nhanh chóng trở thành một con người lớn và dường như không thể dừng lại. Khi Edwards tấn công bạn sẽ nhìn thấy anh giống như một cỗ xe tăng".

Terry Venables: "Duncan chơi cùng vị trí với Bobby More và chỉ gia nhập đội tuyển đội tuyển ở độ tuổi 29 vào năm 1966. Tuy nhiên nếu cả khi Bobby được chơi cho đội tuyển cùng thời gian với Duncan anh ấy sẽ phải nhận một vị trí khác và bạn sẽ không abo giờ nhìn thấy Moore ở đằng trước Edwards.Duncan là huyền thoại ở mọi nơi mà anh có mặt".

http://red11.org/mufc/images/player/edwardsd/duncan_shrine.jpg

http://www.bbc.co.uk/blackcountry/content/images/2005/09/13/hunt_duncan_edwards_470_369x300.jpg

hoang CJ
06-03-2008, 05:15 PM
http://www.manutd.com.vn/webplus/viewer.build.asp?pgid=5&aid=2484
Ngày sinh: 04/06/1949
Ngày ký hợp đồng: 08/01/1973
Trận đấu ra mắt: 20/01/1973 gặp West Ham (H) tại Second Division
Tổng số bàn thắng: 97
Tổng số lần khoác áo: 400
Vị trí: Tiền đạo
Ngày rời United: 01/07/1984
Quốc tịch: Scotland

Lou Macari đã có 12 năm đáng nhớ ở sân Old Trafford, nhưng ít ai biết rằng trước đó gần như ông đã trở thành một cầu thủ của Liverpool.

Năm 1973, tiền đạo người Scotland này đã nhận được sự quan tâm rất lớn từ HLV Bill Shankly của đội chủ sân Anfield, và ông đã tới dự khán trận đấu với CLB Burnley ở cúp FA như là một vị khách mời của CLB Liverpool.

Tuy nhiên thật trùng hợp, người trợ lý giám đốc của United Pat Crerand cũng ngồi gần đó, và từ những lời đề nghị của Liverpool ông đã thuyết phục được Macari nói chuyện với United.

5 ngày sau, Macari chuyển tới sân Old Trafford với giá 200.000 bảng, khiến cho huấn luyện viên Shankly phải tuyên bố rằng ông cũng chỉ là quân bài dự bị tại Anfield!

Macari đã thu hút được rất nhiều sự chú ý ngay khi còn là một tiền đạo trẻ của Celtic. Trong 6 năm chơi cho gã khổng lồ ở Glasgow, ông đã giành được 2 chức VĐQG và 2 cúp QG Scotland, 3 lần vào đến trận CK League cup.

Chính vì vậy, giá chuyển nhượng của ông đã tăng lên một cách chóng mặt, nhưng ông nhanh chóng chứng tỏ được mình trước các cổ động viên trung thành của United. Ông đã ghi bàn ngay trong lần ra mắt, trong trận hoà 2-2 với West Ham tại sân Old Trafford.

Macari đã giúp United vô địch giải hạng Nhì - Second Division (đứng thứ hai trong danh sách các cầu thủ ghi bàn), vô địch cúp FA vào năm 1977, và 2 lần đoạt ngôi á quân năm 1976 và 1979. Ông chưa bao giờ là một tiền đạo ghi được quá nhiều bàn thắng, và trong những năm cuối của thập niên 70, huấn luyện viên Tommy Docherty đã chuyển ông xuống đá trong vai trò của một tiền vệ. Chính sự thay đổi này đã làm cho Macari chơi hay hơn rất nhiều.

Nhưng sự nghiệp ở United của Macari đã rẽ sang một chiều hướng tồi tệ khi Ron Atkinson tiếp quản vị trí của Docherty năm 1982. Cầu thủ người Scotland đã phải ngồi ghế dự bị ở United trong 2 mùa giải tiếp theo, và ông đã rời khỏi United vào tháng 7 năm 1984 để bắt đầu sự nghiệp huấn luyện.

Ban đầu, Macari đóng vai trò huấn luyện viên kiêm cầu thủ cho CLB Swindon Town, trước khi có một thời gian huấn luyện cho các đội bóng khác như West Ham United, Birmingham City, Stoke City (2 lần) và Celtic. Ông cũng trở thành người tìm kiếm tài năng trẻ cho cộng hòa Ai-len, và là một Bình luận viên quen thuộc thường xuất hiện trên kênh MUTV.

tzboy
07-03-2008, 02:50 PM
Denis Law
http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/18258bf11a58f7e827d7c1931d54f933-law.jpg

Quốc tịch Scotland
Ngày sinh 24/2/1940
Số lần khoác áo 393(6)
Số bàn thắng 236

Trong thập niên 1960, khi Eric “The King” Cantona còn nằm trong nôi, Denis Law đã nổi danh là Ông Vua Của Old Trafford. Các fan hâm mộ điên cuồng vì Law, do mỗi khi ra sân, Law đều thi đấu bằng tất cả trái tim.

Chàng trai xứ Scot ấy luôn dũng mãnh tiến lên và không bao giờ lùi bước, chàng làm kinh hòang các thủ môn đối phương với 1 khả năng làm bàn thiên phú có thể sút bóng vào khung thành từ bất kỳ 1 góc độ nào. Có thể nói ở Law hội tụ đầy đủ những phẩm chất của 1 tiền đạo siêu hạng, ông sút tốt cả 2 chân, đánh đầu giỏi, kỹ thuật cá nhân tuyệt vời, cộng thêm vào đó là bản năng sát thủ, luôn xuất hiện đúng lúc đúng nơi. Người ta bảo rằng tầm nhìn của Law luôn vượt hẳn mọi người, do đó mà ông luôn là cầu thủ “thấy trước” được những cơ hội.

Tuy chiều cao chỉ ở mức trung bình và thân hình hơi mảnh khảnh, Denis Law mang trong mình 1 “trái tim sư tử” và 1 khả năng bật nhảy của chúa sơn lâm. Ông không ngại va chạm với những đối phương cao to lực lưỡng, và, cũng như Pele, thường xuyên bật cao hơn những hậu vệ to lớn hơn mình để đánh đầu ghi bàn. Luôn ra sân với chiếc áo tay dài được xắn cong điệu đàng nơi cổ tay, Law tạo cho mình 1 phong cách riêng biệt thật tao nhã và thanh lịch. Nhận xét về Law, đồng đội George Best thán phục rằng “anh ấy có thể ghi bàn ngay khi chỉ có 1 phần trăm cơ hội”. Nhưng không chỉ thế mà thôi, khả năng kiến thiết bóng của Law cũng xuất sắc không kém, biết bao những bàn thắng của Best là chính do Law dọn cỗ.

Denis Law sinh ngày 24-2-1940 tại Anberdeen, Scotland. Ông khởi đầu sự nghiệp vào năm 1956 tại Huddersfield. Sau Huddersfield, Law chuyển sang Italy thi đấu cho Torino. Đến năm 1962 thì ông đầu quân cho MU với giá chuyển nhượng kỷ lục nước Anh thời ấy là 115 000 bảng. Trong trận đầu tiên khoác áo MU vào ngày 18-8, gặp WBA, Law đã ghi ngay 2 bàn thắng. Kể từ đó, Law trở thành tiền đạo không thể thiếu của the Reds, các fan hâm mộ đặt cho ông biệt danh là The King. Trong 5 mùa giải đầu tiên, Law thi đấu 222 trận cho MU, ghi được 160 bàn, nhiều bàn trong số đó đẹp đến như không tưởng. Ông cùng với Bobby Charlton và George Best đã tạo thành cặp tam tấu huyền thoại, đưa MU đoạt 2 cúp VĐQG vào những năm 1965 và 1967, cúp FA năm 1963. (Đáng tiếc là Law lại không có mặt trong chiến dịch chinh phục cúp C1 năm 1968 do chấn thương đầu gối). Bộ tam tấu của MU mỗi người đều dành được 1 quả bóng vàng châu Âu trong thập kỷ 60, Denis năm 64, Bobby năm 66, và George năm 1968.

Kết thúc mùa giải 1973, Denis Law về thi đấu cho Manchester City theo hợp đồng chuyển nhượng tự do. 1 năm sau, chính ông đã ghi bàn thắng duy nhất vào phút 85 bằng 1 cú đánh gót, đem lại thắng lợi cho City trong trận Derby thành Manchester, chính thức tiễn đưa … United xuống hạng. Sau khi phá lưới United, khuôn mặt Law trở nên rầu rĩ đến tội nghiệp, chứng tỏ 1 cảm tình sâu đậm dành cho đội bóng cũ sẽ không bao giờ phai. Trận đấu ấy cũng là lần cuối cùng Law ra sân tại giải VĐQG Anh.

Denis Law kết thúc sự nghiệp cầu thủ sau khi cùng tuyển QG Scotland tranh tài tại World Cup 1974, tổng cộng Law khoác aó tuyển QG 55 lần, ghi 30 bàn thắng. Trận đấu đáng nhớ nhất của Law cho đội tuyển là vào năm 1967, khi Scotland đánh bại đối thủ truyền kiếp Anh, đương kim vô địch thế giới, 3-2 ngay tại Wembley. Trong suốt chiều dài lịch sử bóng đá Scotland, họa chăng chỉ có Kenny Dalglish là xứng đáng được đứng ngang hàng cùng Law mà thôi.
Danh hiệu:
Cúp FA 1963
Vô địch quốc gia 1965, 1967.

AJ_Shigeki
07-03-2008, 03:01 PM
http://bongda.24h.com.vn/forum/imagehosting/45747b7d23506b56.jpg

Albiston, Arthur




Quốc tịch: Scotland

Ngày sinh: 14/7/1957

Số lần khoác áo: 464 (18)

Số bàn thắng: 7

Sinh ra ở Edinburgh, Scotland nhưng Arthur Albiston đã sớm gắn bó với xứ Manchester, anh bắt đầu luyện tập cùng đội trẻ United từ năm 1972, và đến năm 74 Arthur ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với câu lạc bộ, để rồi tiếp tục cống hiến hơn 10 năm nữa cho tới tận mùa giải 88 dưới vai trò hậu vệ cánh..

Thường được nhắc tới như một người hùng thầm lặng, Arthur luôn tạo được sự chắc chắn và tin tưởng đối với đồng đội, cùng tuýp cầu thủ với Denis Irwin luôn có phong độ ổn định mỗi khi ra sân. Trong lịch sử câu lạc bộ, chỉ có duy nhất 6 cầu thủ có số lần ra sân nhiều hơn Albiston, người đã thi đấu dưới 5 triều đại huấn luyện viên khác nhau ở Old Trafford.

Anh góp mặt trong 4 trận chung kết cúp FA cùng United và giành chiến thắng 3 lần vào các năm 1977, 1983, 1985, lập kỷ lục mới tại câu lạc bộ về số lần đạt cúp FA vào lúc đó, kỷ lục này sau đó đã được Mark Hughes bắt kịp. Albiston chuyển đến chơi cho West Brom từ mùa giải 1988 khi Sir Alex quyết định tái thiết lại hàng hậu vệ dựa trên các cầu thủ trẻ.

MA_BU
07-03-2008, 03:11 PM
Nicky Butt, Henning Berg, Laurent Blanc, Jesper Blomqvist mấy thằng này sao lại có mặt ở đây được, cái chữ "ngôi sao" cũng đã là may lắm rồi, bác thienthan xóa bớt đi, thằng Andy Cole cũng có rồi, ông nội này kô đọc bài của người khác


Bill Foulkes

http://www.sporting-icons.com/shopmedia/images/9250.jpg

Ngày sinh: 05/01/1932
Ngày kí hợp đồng: 01/03/1950
Trận đấu ra mắt: 13/12/1952 gặp Liverpool (A) tại First Division
Tổng số bàn thắng: 9
Tổng số lần ra sân: 688
Vị trí: Hậu vệ
Ngày rời United: 01/06/1970
Quốc tịch: Anh

Số trận đấu/Số bàn thắng

VDQG 563 7
FA Cup 61 0
League Cup 3 0
Cúp châu ÂU 52 2
Tổng cộng 679 9

Danh hiệu

1968 Cúp C1
1967 VDQG
1965 VDQG
1963 F.A. Cup
1957 VDQG
1956 VDQG

Bill Foulkes, người từ địa vị công nhân mỏ than đã trở thành 1 thành viên trong thế hệ Busby Babes. Foulkes là tấm gương cho sự trung thành với màu cờ sắc áo. Trong suốt 20 năm sự nghiệp, ông chỉ duy nhất thi đấu cho MU mà thôi. William Anthony Foulkes, thường gọi Bill, sinh ngày 5 tháng 1 năm 1932 tại St.Helens, Lancashire, trong 1 gia đình công nhân. Là một hậu vệ kiểu truyền thống, người thích những va chạm khi phải đối đầu với một tiền đạo cắm tốc độ, Bill Foulkes chỉ đứng sau duy nhất Sir Bobby Charlton và Ryan Giggs trong danh sách những cầu thủ khoác áo nhiều nhất mọi thời đại của United với tổng số 688 lần.

Do gia cảnh khó khăn nên ngay từ khi còn niên thiếu, Foulkes đã phải xin vào làm thợ mỏ than để kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Năm 1950, ông ký hợp đồng với MU với tư cách cầu thủ nghiệp dư. Trong suốt thời gian tập sự tại Old Trafford, Foulkes vừa chơi bóng vừa tiếp tục công việc trong hầm mỏ. Ông không dám bỏ mỏ than vì sợ sẽ bơ vơ không nghề nghiệp nếu rủi mà không được MU tuyển chọn vào đội hình. Năm 1951, khi đã được chính thức đưa vào danh sách cầu thủ chuyên nghiệp, Foulkes vẫn cẩn trọng chưa rời mỏ. Ông chỉ chính thức từ bỏ vai trò công nhân vào năm 1952, khi đã cảm thấy hoàn toàn yên tâm rằng nghề bóng đá có thể nuôi sống được mình.

Trong 18 mùa giải, ông đã tạo ra một tấm lá chắn vững chắc cho phía hậu phương của Quỷ Đỏ đến nỗi mà trong gần 2 thập kỷ tại Old Trafford, rất hiếm khi Sir Matt Busby để anh ở ngoài danh sách đội hình.

http://www.sportcartoons.co.uk/caricatures/fowlkes.jpg

Trong trận đầu tiên khóac áo MU, ngày 13/12/1952 gặp Liverpool, Foulkes được bố trí chơi bên cánh phải. Nhưng đến khoảng giữa mùa bóng ấy, ông được huấn luyện viên đưa vào trong đá ở vị trí yêu thích của mình là trung vệ, vị trí ông giữ mãi cho đến cho tới ngày treo giày. Việc chuyển vị trí này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Foulkes khi mà ông luôn thích lối chơi đơn giản, và chuyền bóng cho những người đồng đội có nhiều phẩm chất thiên phú hơn mình ngay khi có thể. Đó chính là lối chơi đã khiến ông luôn nhận được sự tin tưởng từ những người đồng đội cũng như HLV. Cao to và mạnh mẽ, Foulkes như 1 bức tường thép đứng tấn trước vòng cấm địa, thân thể Foulkes rắn chắc như đá tổ ong nơi mỏ than ông từng lao động bao năm. Cứ như nhận xét của nhiều người, thì với lối chơi đầy thể lực, Foulkes lẽ ra nên chơi… bóng bầu dục thay vì bóng đá. Dù là trên không hay dưới đất, nếu tiền đạo đối phương mà khôn ngoan thì ít ai dám trực diện va chạm cùng ông.

Là 1 trong những người sống sót sau thảm họa Munich, Bill Foulkes giữ vai trò thủ quân của 1 MU mới sau năm 1958. Ông cùng Quỷ Đỏ giành 4 danh hiệu VDQG vào các năm 1956, 1957, 1965, và 1967. Người hậu vệ kiên cường này cũng từng tham gia 3 trận chung kết cúp FA, 2 lần thất bại vào các năm 1957 và 1958, nhưng chiến thắng năm 1963 (hạ Leicester 3-1). Thành tích cao quý nhất của Foulkes dĩ nhiên là danh hiệu vô địch châu Âu cấp CLB, cúp C1 năm 1968. Trong giải đấu năm đó, chính ông là người ghi bàn quyết định giúp MU vượt qua Real Madrid để vào tranh chung kết cùng Benfica. Tuy nhiên, chiến tích cùng câu lạc bộ của Foulkes thì nhiều như thế, nhưng cùng đội tuyển quốc gia thì lại chẳng có gì. Bill Foulkes, Dennis Viollet, và Steve Bruce là 3 huyền thọai của MU không có duyên với tuyển Anh. Steve Bruce không được tuyển lần nào, Dennis Viollet 2 lần, còn Foulkes thì ở giữa, tức 1 lần duy nhất.
Mặc dù được chú ý nhiều hơn ở khâu phòng ngự hơn là ghi bàn, nhưng Foulkes vẫn được nhắc tới vì những bàn thắng mang tính quyết định của mình. Một điển hình chính là bàn thắng vào lưới Real Madrid tại Bernabeu vào năm 1968, đưa United tiến vào trận chung kết cúp C1 châu Âu.

http://www.urmyhero.co.uk/vault/43852/images/manu1968caricature.jpg

Sau chiến thắng tại Cúp C1, Foulkes dự định giã từ bóng đá. Ông cảm thấy mình không còn mục tiêu nào nữa để phấn đấu, vả lại tuổi 36 cũng đã quá cao. Có điều do chưa ai qua mặt nổi Foulkes, nên ngài Matt Busby đã ra sức thuyết phục ông ở lại thêm 2 năm nữa. Nể Busby, Foulkes tiếp tục thi đấu đến năm 1970. Cho đến ngày từ giã sân cỏ, ông thi đấu cho Mu tổng cộng 679 trận, trong đó chỉ có 3 trận ra sân từ băng ghế dự bị. Đặc biệt trong các mùa bóng 1957-58, 59-60, 63-64, 64-65, Foulkes xuất phát trong TẤT CẢ CÁC TRẬN MU chơi trong mùa. Chơi với một 1 mật độ dày đặc như thế mà lại không hề chấn thương, thể lực của Foulkes phải nói là…kinh khủng.

Sau khi treo giày, Bill Foulkes được bổ nhiệm làm HLV đội trẻ tại MU. Những năm sau đó, ông phiêu lưu huấn luyện khắp nơi, từ Mỹ cho đến Na Uy, Nhật Bản. Năm 1992, Foulkes trở lại Anh và từ đó trở đi không còn họat động nhiều trong lĩnh vực bóng đá.

AJ_Shigeki
07-03-2008, 03:16 PM
Hughes, Mark

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/2b7e1f6c2f89ba294f7a54531cfba3b3-flyinghughes.jpg

Quốc tịch Xứ Wales
Ngày sinh 1/11/1963
Số lần khoác áo 448(14)
Số bàn thắng 163

Nhắc đến các tiền đạo hàng đầu trong kỷ nguyên bóng đá hiện đại vương quốc Anh, không ai có thể bỏ qua được Mark Hughes, chuyên gia của những cú volley “ngả bàn đèn” ngọan mục.
Hughes không phải là mẫu tiền đạo chuyên săn bàn, song khả năng kiến thiết bóng của ông thuộc vào lọai nhất hạng. Kỹ thuật cá nhân của Hughes cũng không quá xuất sắc, nhưng khả năng cầm, che, và giữ bóng thì khó ai sánh bằng. Hughes là 1 mắt xích cực kỳ quan trọng trong lối chơi phản công nhanh của MU vào cuối những năm 1980 đầu 1990. Mỗi khi các hậu vệ áo đỏ cướp được bóng, họ thường chuyền lên cho Hughes, ông giữ vai trò cầm banh, thu hút hàng thủ đối phương, để các đồng đội có thời cơ băng lên chiếm giữ những vị trí xung yếu. Ngòai sân cỏ, Hughes là người trầm tĩnh, điềm đạm, nhưng trong khi thi đấu thì cũng dũng mãnh chẳng kém chi ai, có những cầu thủ như Hughes thì các trận đấu sẽ chẳng bao giờ nhàm chán.

Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1963 tại Wrexham, Wales, Mark Leslie Hughes được đào tạo ngay chính tại đội trẻ của Manchester United. Năm 1983, Hughes được thăng lên đội 1, thi đấu trận đầu tiên vào ngày 26 tháng 10 gặp Port Vale. 2 năm sau, MU giành chức vô địch cúp FA, còn bản thân Hughes được nhận danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất nước Anh do Hiệp Hội Các Cầu Thủ Nhà Nghề (PFA) trao tặng. Danh hiệu này hết sức xứng đáng, do Hughes đã thi đấu xuất sắc và ghi được cả thảy 17 bàn trong mùa 1985/1986.( trong suốt những năm còn lại của sự nghiệp, số bàn thắng trong 1 năm của ông không bao giờ đạt được con số này 1 lần nữa). Các CLB lớn của Châu Âu tranh nhau chữ ký của Mark Hughes, và chính Hughes cũng mong muốn được phiêu lưu tại 1 môi trường mới. Năm 1986, ông chuyển sang Barcelona với giá 2 triệu bảng.

Dường như có 1 cái “dớp” cho các ngôi sao của MU, rằng hễ họ mà rời Old Trafford thì sẽ không còn giữ được phong độ, Mark Hughes cũng không là ngọai lệ. Mùa bóng đầu tiên của ông tại Nou Camp là 1 thảm họa, thi đấu 28 trận chỉ ghi vỏn vẹn được 4 bàn. Sang đến mùa 1987-1988, ông chơi cho Bayern Munich theo hợp đồng cho mượn, thành tích có khá hơn chút ít, với 18 trận và 6 bàn, nhưng so với thời kỳ còn ở MU thì vẫn là quá kém cỏi. Thất vọng vì Hughes, Barcelona rao bán ông sau mùa bóng 1988, và người đầu tiên xếp hàng chờ mua, không ai khác, chính là…ngài Alex Ferguson. Tiền chuyển nhượng lần này là 1 triệu 6, như vậy tổng cộng Hughes rớt giá 400 000 bảng.

Trở lại Old Trafford, Mark Hughes như cá lại về sông, ông lại tiếp tục phong độ chói sáng, với những đường chuyền sắc sảo, và những cú “ngả bàn đèn” tuyệt vời. Phong độ ấy đã đem lại cho Hughes 2 danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Nước Anh của PFA vào các năm 1989 và 1991. Fan MU mê say các bàn thắng đẳng cấp của Hughes, trong số đó có cú sút từ góc cực hẹp trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1991, đem về thắng lợi cho MU trước Barcelona, cú lốp bóng từ khỏang cách 25 mét tại trận gặp Manchester City năm 1989, và pha volley kinh điển vào phút cuối cùng, gỡ hòa cho Quỷ Đỏ trước Oldham trong trận bán kết cúp FA năm 1994.

Từ đầu thập niên 1990 trở đi, Mark Hughes cùng MU giành hàng lọat danh hiệu: Cúp FA 1990(Hughes ghi bàn trong trận chung kết MU-Crystal Palace 1-0), cúp C2 và Siêu Cúp châu Âu 1991, League Cup 1992. Từ khi Eric Cantona đến Old Trafford, những thành tích lại càng nhiều thêm , với 2 chức VDQG năm 1993 và cú đúp năm 1994. Tuy không mấy ưa nhau, nhưng trên sân cỏ thì Hughes và Cantona luôn là 1 cặp bài trùng ăn ý. Cặp bài trùng tan rã vào năm 1995, khi ngài Alex Ferguson quyết định trẻ hóa đội hình và đẩy Mark Hughes, lúc ấy phong độ vẫn rất cao, sang Chelsea.

Suốt trong 1 thập kỷ, Mark Hughes là 1 tượng đài ở Old Trafford, chính vì vậy quyết định bán ông đã gây nên không ít ngạc nhiên, và cả phẫn nộ, cho các fan hâm mộ. Nhưng rồi thời gian đã chứng tỏ quyết định này không gây tổn hại gì đến cả 2 phía, MU vẫn tiếp tục thành công mà không có Hughes, còn Hughes cũng vẫn tỏa sáng tại Chelsea, những bàn thắng của ông có ít đi, nhưng khả năng cầm bóng và kiến tạo vẫn còn đó. Tại Chelsea, Hughes giành thêm 2 cúp FA, và trở thành cầu thủ duy nhất tại Anh 4 lần đọat cúp này. Rời Chelsea năm 1998, ông lần lượt thi đấu cho Southampton (98-00), Everton (00-01) và Blackburn(01-02), trước khi giã từ sân cỏ ở tuổi 39. Trong những năm cuối đời cầu thủ, Hughes chủ yếu giữ vai trò dự bị chiến lược.

Điều đáng tiếc nhất trong đời Mark Hughes là chưa bao giờ được tham dự 1 giải đấu lớn như World Cup hay Euro, do đội tuyển xứ Wales quá yếu. Ông khóac áo Wales suốt 17 năm, từ 1983 đến 2000, thi đấu 72 trận và ghi được 16 bàn thắng. Từ năm 1999 đến 2004,Mark Hughes cũng đảm nhận luôn cương vị HLV đội tuyển xứ Wales.Tháng 9 năm 2004, ông ký hợp đồng dẫn dắt CLB Blackburn Rovers.

Danh hiệu:

1985 FA Cup
1990 FA Cup
1991 Cúp C2
1991 Siêu Cúp Châu Âu
1992 League Cup
1993 VDQG
1994 VDQG
1994 FA Cup

AJ_Shigeki
07-03-2008, 03:19 PM
McClair, Brian

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/2c6a2b642d67bbb210d90d631e776fc3-mcclair2.jpg

Có thể Brian McClair không là 1 thiên tài như George Best hay Denis Law, cũng không phải là mẫu người đầy sức mạnh như Peter Schmeichel hay Steve Bruce. Tuy nhiên, tinh thần thi đấu tận tụy ...
cống hiến không mệt mỏi, cùng với sự trung thành với màu áo đỏ đã bù lại cho sự thiếu hụt tài năng thiên phú của McClair, và tên tuổi anh xứng đáng được đứng ngang hàng với các huyền thọai khác tại Old Trafford

McClair sinh năm 1963 tại Airdrie-Scotland, anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá với tư cách cầu thủ tập sự tại Aston Villa vào năm 1980, đến tháng 8 năm 1981 thì về Scotland đá cho Motherwell. Vốn là người hiếu học, McClair vừa thi đấu vừa theo học khoa Toán ở đại học Glasgow.

Tháng 6 năm 1983, McClair chuyển sang Celtic với giá chuyển nhượng 75,000 bảng.Tại đây, anh giành được cúp Quốc gia năm 1985 và Cúp Vô địch quốc gia năm 1986; cùng năm này anh còn được bầu là "cầu thủ xuất sắc nhất Scotland". Thành tích ghi 99 bàn trong 145 trận tại Scotland khiến McClair lọt vào mắt xanh của HLV Alex Ferguson. Mùa hè năm 1987,Ferguson bỏ ra 850,000 bảng rước McClair về Old trafford.Ngay mùa giải đầu tiên tại CLB mới, McClair đã ghi ngay 24 bàn thắng, trở thành cầu thủ đầu tiên ghi được hơn 20 bàn thắng trong 1 mùa giải cho MU kể từ thời huyền thoại George Best.Kể từ đấy, McCLair hợp với McHughes trở thành cặp tiền đạo chủ lực của The Reds.Sau khi Eric Cantona chuyển đến Nhà Hát Những Giấc Mơ, McClair nhường chỗ cho tiền đạo người Pháp và lui về đá tiền vệ công.
Những năm tháng tại MU trôi qua 1 cách huy hoàng với McClair,anh giành được 1 cúp C2, 2 cúp FA,4 chức vô địch Anh. McCLair cũng là người ghi bàn duy nhất trong trận MU-Nottingham 1-0 ở chung kết League Cup năm 1992.(đây là League Cup duy nhất Mu có được trong "triều đại Ferguson").Về thành tích cá nhân, McClair 2 lần được bầu là Cầu thủ Xuất sắc Nhất Mu Trong Năm, vào các mùa 1988 và 1992. Tuy nhiên, trong những năm cuối tại Old Trafford, anh không còn cạnh tranh nổi với tài năng trẻ Andy Cole và phải ngồi ghế dự bị.

Trong màu áo tuyển quốc gia Scotland, McClair thi đấu 27 trận, ghi 2 bàn. Anh từng tham dự EURO 1992, giải mà Scotland đã xuất sắc đè bẹp đương kim á quân CIS 3-0.

Năm 1998, McClair rời Mu để trở về Motherwell, rồi sau đó lại cùng với Brian Kidd nắm quyền huấn luyện Blackburn Rovers.Sau khi bị sa thải vì...đưa Blacburn xuống hạng, năm 2001, McClair trở về Old Trafford với chức vụ HLV đội hình dự bị của MU.Anh cùng với Mike Phelan và Ricky Sbragia là những phụ tá hiện nay cho sir Alex.

Vài thông số về McClair:

Số trận thi đấu và bàn thắng cho MU:
VDQG 296 trận,88 bàn
FA Cup 38 trận,14 bàn
League Cup 44 trận,19 bàn
Europe cup 17 trận,5 bàn
Tổng cộng:395 trận,126 bàn

Các danh hiệu:

1997 F.A. Premier League
1996 F.A. Premier League
1996 F.A. Cup
1994 F.A. Cup
1994 F.A. Premier League
1993 F.A. Premier League
1992 League Cup
1991 Cúp C2
1990 F.A. Cup

AJ_Shigeki
07-03-2008, 03:24 PM
Lee Sharpe

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/adcf7d58c733d221bc4073312dbca310-portrett_medium.jpg

Đến Manchester United từ Torquay vào năm 1988 vớI giá 185 000 bảng, Lee Sharpe từng được kỳ vọng sẽ trở thành 1 biểu tượng tại Nhà Hát Những Giấc Mơ. Năm 1991, ở tuổI 20, anh được trao tặng danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất Nước Anh. Nhưng rồi những chấn thương kéo đến, và khi bình phục, Sharpe lại không cạnh tranh nổI với Ryan Giggs ở vị trí tiền vệ cánh trái.

NổI danh với những màn ăn mừng bàn thắng theo kiểu Elvis Presley (ca sỹ huyền thoạI ngườI Mỹ, vua nhạc rock’n’roll), Lee Sharpe đã cùng MU giành cúp C2 châu Âu năm 1991, League Cup năm 1992, cúp FA năm 1994, và 3 chức VDQG vào các năm 1993, 1994, 1996. Bệnh tật khiến Sharpe phải nghỉ thi đấu 1 thời gian dài trong mùa 1996, rồi sự xuất hiện của những tài năng mới như David Beckham và Paul Scholes khiến anh không còn chỗ đứng. CuốI năm 1996, anh được bán sang Leeds United với giá 4.5 triệu bảng.

Lee Sharpe lần lượt thi đấu cho Leeds, Bradford, Sampdoria (Italy), và Portsmouth, trước khi phải từ giã bóng đá đỉnh cao vì chấn thương. Tuy nhiên, anh vẫn tham gia thi đấu ở các giải hạng dưới ở Anh.

AJ_Shigeki
07-03-2008, 03:30 PM
Dennis Viollet

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/2fff40a62cc5982833ad88e20f79bd22-23dennis_viollet_big.jpg

Tại mùa bóng 1959/1960, Dennis Viollet 32 lần phá lưới đối phương chỉ trong 36 trận ra sân. Từ thuở MU ra đời với cái tên Newton Heath cho đến thời điểm ấy, chưa ai ... đạt đến kỷ lục ghi bàn này. Và từ thời điểm ấy cho đến nay, 44 năm trôi qua, kỷ lục này vẫn sừng sững vì chưa ai phá nổi. Những Vua Phá Lưới gần đây nhất của MU là Dwight Yorke và Ruud Van Nistelrooy, chỉ lần lượt ghi được có 18 và 25 bàn, so với con số 32 thì còn thua kém nhiều lắm.

Dennis Viollet sinh ngày 20-9-1933 tại Manchester, và trưởng thành ngay tại lò đào tạo trẻ của MU, thế hệ Busby Babes. Năm 1953, ông được thăng lên đội lớn để thay thế tiền đạo lão tướng Stan Pearson, và thi đấu trận ra mắt gặp Newcastle vào ngày 11-4. Trong mùa giải ấy, Viollet được xếp đá cặp cùng Tommy Taylor. Kể từ đó, 2 người hợp thành 1 cặp “bài trùng hủy diệt”, gieo rắc kinh hoàng trên sân cỏ Anh và châu Âu trong suốt 5 năm, cho đến ngày Tommy Taylor tử nạn. Hiệu suất ghi bàn của Taylor là 0,5 bàn 1 trận, còn của Viollet là 0.6; không nghi ngờ gì, họ chính là cặp tiền đạo ăn ý và hiệu quả nhất trong lịch sử United, ngay đến cặp Cole-Yorke những năm cuối thập niên 1990 cũng không sánh bằng.

Nhìn dáng điệu nhỏ nhắn gầy ốm của Viollet, ban đầu các hậu vệ đối phương đều ra vẻ coi thường, và chính sự coi thường này bắt họ phải trả giá thật đắt. Nhưng ngay cả khi không chủ quan đi nữa thì cũng khó mà ngăn cản được Viollet. VớI khả năng kiểm soát bóng nhanh nhạy và tốc độ nhanh như “ánh sáng”, ông dễ dàng xuyên thủng các hàng phòng thủ, như 1 lưỡi gươm đâm xuyên mọI chướng ngạI, để lạI các trung vệ địch “hít bụI” ở sau lưng. Điểm yếu duy nhất của Viollet là đánh đầu không giỏi, nhưng 1 khi đã có đốI tác là “Người Hùng Trên Không” Tommy Taylor(*) ở bên cạnh thì điểm yếu đó cũng không đáng quan tâm. 1 trong những pha dàn xếp quen thuộc giữa 2 tiền đạo này là khi bóng được chuyền bổng vào vùng cấm địa, Taylor sẽ bật cao không chiến cùng các hậu vệ, dùng đầu găm bóng xuống cho Viollet ghi bàn. Chính vì Taylor bổ sung cho nhược điểm của Viollet và ngược lạI, nên khi kết hợp vớI nhau thì cả 2 tạo thành 1 cặp bài trùng vô cùng hoàn hảo.

Cặp bài trùng Viollet - Taylor góp công rất lớn đưa United đến 2 chức vô địch quốc gia liên tiếp vào các năm 1956 và 1957. Khi đã thống trị đấu trường quốc nội, giấc mộng vinh quang của họ bắt đầu hướng ra châu Âu. Trong trận tứ kết cúp C1 năm 1958 giữa MU và Red Star Belgrade, Viollet là 1 trong những cầu thủ ra sân tại Nam Tư, và chính ông ghi 1 bàn trong kết quả hòa 3-3 của trận ấy. Có ai ngờ chuyến trở về từ đất nước Đông Âu cũng đánh dấu luôn sự chia cắt âm dương giữa 2 tiền đạo ăn ý nhất nước Anh. Taylor qua đờI, còn Viollet sống sót vớI thương tích nặng.

Ban đầu, ai cũng ngỡ thương tích Munich sẽ chấm dứt luôn sự nghiệp của Viollet, nhưng ông ra sức cố công tập luyện và cuối cùng trở lạI được sân cỏ. Đến đây, lại nảy sinh 1 nghi ngờ mới: không có Taylor thì Viollet sẽ thi đấu sao đây, có còn hiệu quả được như xưa? Nhưng mối nghi ngờ nhanh chóng bị đập tan khi Viollet lên ngôi Vua Phá Lưới giải VDQG Anh mùa 1959-60, với kỷ lục ghi bàn đã nêu trên. Nếu xét về tổng số bàn thắng trong thời kỳ thi đấu cho MU, thì còn nhiều người hơn Viollet, như George Best và Denis Law chẳng hạn, Law thậm chí có lần còn lập kỷ lục ghi 5 hat-trick chỉ trong 1 mùa, nhưng nếu chỉ xét về số bàn thắng trong riêng 1 mùa bóng thôi thì Viollet giữ vị trí độc tôn.

Tuy nhiên, thật đáng ngạc nhiên là trong cặp bài trùng Viollet - Taylor thì chỉ có Taylor là được trọng dụng tạI đội tuyển quốc gia. Có lẽ là do Viollet không phù hợp vớI lối chơi lật cánh đánh đầu truyền thống chăng? 2 năm sau khi Taylor qua đời, Viollet mới lần đầu tiên được khoác áo tuyển Anh, và số lần khoác áo đội tuyển của ông cũng chỉ dừng ở con số 2. Chỉ 2 trận thôi, nhưng cũng kịp ghi 1 bàn thắng.

Sau kỷ lục độc nhất vô song ở mùa giải 1960, phong độ của Viollet có phần kém sút. Điều này cũng dễ hiểu, bởI vì đỉnh cao chính là “đêm trước” của sự xuống dốc, và 1 khi tinh hoa đã phát tiết cả rồI thì sẽ chẳng còn gì nữa. Năm 1962, trong công cuộc tái thiết MU, ngài Matt Busby đẩy Viollet sang Stoke City. Sau đó, ông chuyển sang Ireland thi đấu cho Linfield, trước khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ và trở thành HLV cho NASL tạI Mỹ. Viollet qua đời vào tháng 3 năm 1999, hưởng thọ 65 tuổi. Nhắc về ông, cựu đồng đội Bobby Charlton ca ngợi “Kỷ lục của anh vẫn còn đó, và đấy chính là cách tốt nhất để tưởng nhớ anh."

Vài thông số về Viollet trong thời gian ở MU:

Số trận đấu/ Số bàn thắng: VDQG 259/159
FA Cup 18/5
League Cup 2/1
Cúp Châu Âu 12/13
Tổng cộng 291/178

Các danh hiệu:
1956: VDQG
1957:VDQG

maradola
07-03-2008, 03:56 PM
Đề nghị mod xem lại nha có thẳng spam ầm ầm kìa,veron mà huyền thoại thì hết nói nổi.
p/s:đọc xong thì xóa đi nhé mod

AJ_Shigeki
07-03-2008, 04:14 PM
Đề nghị mod xem lại nha có thẳng spam ầm ầm kìa,veron mà huyền thoại thì hết nói nổi.
p/s:đọc xong thì xóa đi nhé mod
Veron thì là copy =)) Tự xóa tự xóa =)) ...................................

Còn những người khác thì :| Chả spam cái gì cả. Nếu cậu định mình cậu viết thì nói luôn 1 tiếng đi.

thienthanqnd2005
07-03-2008, 04:33 PM
Các mem chú ý vào tittle của topic trước khi post bài. Không phải cứ copy&paste vậy là tốt đâu.

Khi post một cầu thủ nào bạn cần đưa ra những thông tin như sau:


Họ tên cầu thủ: (Cái này in đậm nhé)
Ngày sinh:
Quốc tịch:
Ngày kí hợp đồng:
Trận đấu ra mắt:
Tổng số bàn thắng:
Tổng số lần ra sân:
Vị trí: Hậu vệ
Ngày rời United:
Các câu lạc bộ đã qua:
Danh hiệu
Một số hình ảnh:


Sau đó mới đến giới thiệu về cầu thủ đó. Chú ý cách trình bày

MA_BU
07-03-2008, 08:47 PM
Ối kô phải mod close để xem xét ah
Cứ cái kiểu mà ai đá cho MU cũng được xếp lên thành "huyền thoại" vậy thì tui cũng chả cần quan tâm nữa. Thật là vớ vẩn
Cứ cái kiểu này thì đến lúc lôi cả O'shea với Brown lên luôn thì bó tay ^:)^

maradola
07-03-2008, 10:10 PM
Cứ cái kiểu mà ai đá cho MU cũng được xếp lên thành "huyền thoại" vậy thì tui cũng chả cần quan tâm nữa. Thật là vớ vẩn
Cứ cái kiểu này thì đến lúc lôi cả O'shea với Brown lên luôn thì bó tay ^:)^
Yes,that right.

Còn những người khác thì Chả spam cái gì cả. Nếu cậu định mình cậu viết thì nói luôn 1 tiếng đi.
Bạn hiểu nhầm rùi,mình đã nói từ đầu là mong các bạn bổ sung thêm mà tại vì một số cầu thủ bạn nêu mình thấy chưa thể gọi là huyền thọai được.Tài năng của họ chỉ ở mức trung bình và kô đóng góp được gì nhiều vào thành công của CLB.Muốn trờ thành huyền thoại ở một CLB nào thì cần:
-phải gắn bó với CLB ít nhất 5 năm
-phải là cầu thủ giỏi nhất ở vị trí của mình,có thể một mình xoay chuyển trận đấu bằng khoảng khắc loé sáng để giúp CLB đạt được những danh hiệu
-tài năng phải được thế giới công nhận
-khi nhắc đến CLB đó người ta phải liên tưởng đến cầu thủ đó,coi đó như là biều tượng CLB.
Những cầu thủ như Stam,Rio Ferdinand, ,Lee Sharpe,Henning Berg họ có tài năng nhưng chưa thể gôi là huyền thoại đươc.Đó chỉ là những cầu thủ đá thuê thôi,đến rồi lại đi
Còn nữa, một số cầu thủ đã nêu rồi bạn còn nêu lại thế gọi là gì?=>spam chứ gì

thienthanqnd2005
08-03-2008, 08:24 AM
Thôi đi các bố, vừa phải thôi. Tôi đã edit và chỉnh sửa topic lại rồi, mới mở lại để cho các bố tiếp tục thể hiện.
Tất cả các bài viết đều được tôi kiểm duyệt, các bố khỏi phải cãi nhau làm gì cho mệt và loãng topic ra. Ai muốn post và thực sự nghiêm túc thì xin mời. Còn những ai có ý định spam ngay trong topic này thì hậu quả khôn lường đó :)

henry_henry
08-03-2008, 12:04 PM
Không lẽ MU có huyền thoại mà các cầu thủ Arsenal không có huyền thoại cho mình .


Người đầu tiên: ALAN SMITH (1987-1995)

http://www.sporting-heroes.net/files_football/SMITH_Alan_19910803_GH_R.jpg

Trước khi Ian Wright chuyển tới sân Highbury, thì Arsenal hoàn toàn trông cậy vào 1 tiền đạo. Đó là Alan Smith. Ông được chuyển tới Arsenal từ Leicester City vào năm 1987 bởi George Graham. Alan Smith từ bộ đôi đá cặp cùng với Gary Lineker ở Lei City.

Smith ra sân đầu tiên trong trận gặp Liverpool, chơi sát cánh cùng Charlie Nicholas v à Martin Hayes ở trên hàng tấn công. Arsenal đã thua 1-2 trận đó nhưng kể từ đó trở đi các chàng pháo thủ trở thành 1 đối thủ gay góc trong giải đấu. Và đến cuối mùa giải thì Alan đã ghi tới 16 bàn thắng, trong đó có bàn thắng ấn định chiến thắng 3-2 của Arsenal trong trận chung kết cúp quốc gia với Luton Town.

Và vào mùa giải sau đó, Smith đã trở thành người hùng bảo vệ cho Arsenal. Đội hình của ông Graham đã trở thành 1 đội quân hùng mạnh, với 1 hàng hậu vệ chơi cực rắn và một cặp đôi ghi bàn Smith và Merson. Đội hình này đã mang về sân Highbury chiếc cup vô địch đầu tiên kể từ năm 1971 và Smith là anh hùng với 25 bàn thắng trong suốt mùa giải. Mùa giải này đã đi vào lịch sử và Arsenal đã cần phải thắng Liverpool 2 – 0 vào trận cuối cùng của mùa giải thì mới đoạt ngôi vô địch. Smith đã đánh đầu ghi bàn đầu tiên.

Vào năm 1991 Smith lại trở thành nhà vô địch lần nữa và ghi được tới 27 bàn thắng. Vài mùa giải sau chứng kiến nhiều chức vô địch của Arsenal và cùng với đó là các cup của giải trong nước. Nhưng trong thời gian này Smith đã phải vật lộn với chấn thương sụn chân của mình và trận chung kết cup C2 châu âu ở copenhagen trong trận gặp AC Parma, chỉ có 1 bàn thắng được ghi ấn định chiến thắng 1-0 của Arsenal của cầu thủ mang áo số 9, đó là cú vô lê ghi bàn cuối cùng của Smith. Sự nghiệp của Smith trở nên buồn thảm khi ông bị buộc phải từ giã sân có bởi chấn thương sụn kéo dài vào năm 1995.

Xem thêm tại đây : http://sporting-heroes.net/football-heroes/displayhero_club.asp?HeroID=7602

henry_henry
08-03-2008, 12:05 PM
Patrick Vieira - Đội trưởng của một thời hoàng kim

http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/vieira03_1024.jpg

Tên đầy đủ: Patrick Vieira
Ngày sinh: 23-6-1976
Nơi sinh: Dakar – Senegal
Vị trí: tiền vệ trung tâm

Thông tin câu lạc bộ

Câu lạc bộ hiện tại: Internazionale

Đội trẻ:
1993-1994: AS Cannes
1995-1996: AS Cannes

Thi đấu chuyên nghiệp
Năm CLB Số lần thi đấu/ Số bàn thắng
1993-1995 AS Cannes 49 (2)
1995-1996 AC Milan 2 (0)
1996-2005 Arsenal 279 (29)
2005-2006 Juventus 38 (5)
2006-nay Internazionale

Đội tuyển quốc gia:
1997- hiện nay đá cho tuyển Pháp và ghi được 97 ( 6 ) bàn thắng.

Sự nghiệp ban đầu

Vieira sinh tại Cape Verdian – Senegal, gia đình chuyển tới Paris khi anh lên 8 tuổi, và cho tới mãi năm 2003 anh mới quay trở lại Senegal. Ban đầu Vieira chơi cho AS Cannes nơi anh xuất hiện lần đầu ở tuổi 17 và trở thành đội trưởng khi anh mới có 19 tuổi. Không lâu sau đó vào mùa hè năm 1995 anh đã được gã khổng lồ thành Milan mua mặc dù anh chủ yếu ngồi trên băng ghế dự bị và chỉ được thi đấu đúng hai trận.

Arsenal

Tháng 12-1996 vị HLV mới của Arsenal – Arsene Wenger đã đề nghị mua anh từ AC Milan. Chiều cao, sức tì và thể lực của Vieira đồng nghĩa với việc anh sẽ sớm thích nghi với lối đá của bóng đá Anh trong khi sự điềm tĩnh và kinh nghiệm thi đấu biến anh trở thành một phần không thể thiếu trong phong cách đá đẹp mắt của Giáo sư.

Đá cặp ở tuyến giữa với người đồng đội trong tuyển Pháp Emmanuel Petit, Vieira đã đoạt cú đúp giải Ngoại hạng và cúp FA năm 1998, mùa giải trọn vẹn đầu tiên của anh ở Arsenal và anh được gọi vào danh sách thi đấu của tuyển Pháp tại World Cup 1998.

Những năm đầu tiên ở Arsenal của Vieira đã bị ngáng trở nhiều bởi vấn đề kỷ luật – năm 2000-01, anh bị đuổi hai lần trong hai trận đấu liên tiếp mặc dù sau khi trở lại anh không bị lĩnh một chiếc thẻ nào trong 28 trận. Tổng cộng anh đã bị đuổi 12 lần trong sự nghiệp ( 9 lần khi đá ở Arsenal, 1 khi ở Juve, 1 ở đội tuyển QG và Internazionale).

Vieira lại tiếp tục cùng đội tuyển Pháp đạt chức vô địch Euro 2000 rồi sau đó là cú đúp với Arsenal năm 2002. Sau khi Tony Adams giải nghệ năm 2002, Vieira ( khi đó là đội phó ) đã trở thành đội trưởng và kể từ đó anh trở nên điềm tĩnh hơn rất nhiều. Mặc dù vắng mặt trong trong trận chung kết FA năm 2003 vì chấn thương, anh vẫn được nâng cao chiếc cúp cùng các đồng đội với vai trò đội trưởng trong ngày chia tay David Seaman.

Mùa giải 2003-2004, anh đã dẫn dắt Arsenal tạo nên một mùa giải lịch sử với những kỷ lục không thể phá vỡ ở giải Ngoại hạng với 49 trận bất bại và anh cũng là người ghi quả Penalty ấn định chiến thắng của Arsenal trong trận chung kết cúp FA năm 2005 sau khi hòa MU 0-0 trong 120 phút thi đấu chính thức. Tổng cộng Vieira đã chơi 407 trận cho Arsenal và ghi được 33 bàn thắng.

Anh quay trở lại Arsenal trong trận đấu chia tay Dennis Bergkamp ngày 22-7-2006 gặp Ajax.
Dù đã rời Arsenal Vieira vẫn luôn dành được sự yêu mến trong lòng các fan hâm mộ và có một tấm ảnh của anh đặt giữa 14 huyền thoại của Arsenal tại sân vận động mới Emirates.

Juventus

Sự tỏa sáng của Vieira trong màu áo Arsenal đã khiến các “ông lớn” phải để mắt đến, đầu tiên là sự tiếp cận của Manchester United. Trong suốt hai mùa giải 2003, 2004 Vieira đã liên hệ với ý định muốn chuyển đến chơi cho đại gia Real Madrid. Real Madrid đưa tin đề nghị trả Arsenal 23 triệu đô la để có được anh và phía Arsenal cũng đã miễn cưỡng chấp nhận. Tuy nhiên đến phút cuối sau khi đã suy nghĩ kỹ lưỡng Vieira quyết định ở lại với câu lạc bộ nơi anh đã thành danh.

Một năm sau đó, Vieira đã dứt áo ra đi. Arsenal chấp nhận cái giá 20 triệu Euro (tương đương với 13,7 triệu bảng) của gã khổng lồ Juventus. Vào 14-7-2005, Vieira đã đồng ý ký bản hợp đồng thời hạn năm năm với Juventus để đến chơi tại Seri A.

HLV của Juventus khi đó là Fabio Capello đã sử dụng Vieira ở khu vực giữa sân gồm có Emerson và Pavel Nedved. Anh đã giúp Juventus có được một khởi đầu tốt nhất ở giải đấu Seri A. Mặc cho việc thi đấu bị ảnh hưởng bởi chấn thương háng dai dẳng và mâu thuẫn trên sân tập với người đồng đội Zlatan Ibrahimovic, Vieira vẫn giúp Juventus giữ được chiếc cúp vô địch Ý ở lại thêm một năm nữa. Và trong vòng quay của số phận, Vieira đã trở lại Highbury để đối đầu với Arsenal trong trận tứ kết Champions League. Kết quả Arsenal thắng 2-0. Vieira phải nhận một chiếc thẻ vàng ở trận lượt đi tại Highbury và không được đá trong trận lượt về vào ngày 5-4-2006.

Rời khỏi Juventus

Tuy nhiên mùa giải 2005-2006 đã trở thành một mùa giải trắng tay đối với Juventus sau khi sự vụ được khám phá ra rằng họ bị dính líu vào vụ Scandal dàn xếp tỉ số. Liên đoàn bóng đá Italia đã quyết định: Juventus bị giáng xuống chơi ở Seri B với số điểm -17 và kéo theo sự ra đi của hàng loạt ngôi sao. Sau khi xem xét đề nghị của một số câu lạc bộ trong đó có cả Arsenal và Manchester United vào 2-8-2006 Patrick Vieira đã ký bản hợp đồng thời hạn 4 năm với Internazionale với giá chuyển nhượng là 9,5 triệu bảng ít hơn cái giá 20 triệu bảng mà Juventus đã bỏ ra để mua anh từ Arsenal.

Sự nghiệp thi đấu quốc tế

Trong khi còn ở Arsenal, Vieira đã được thi đấu lần đầu tiên cho đội tuyển Pháp trong trận gặp Hà Lan năm 1997. Anh cũng có tên trong danh sách đội tuyển Pháp tham dự WC 98. Anh chính là người thay thế cho Youri Djorkaeff trong trận chung kết gặp Brazil và đã tạo cơ hội cho người đồng đội ở Arsenal là Petit ghi bàn thắng thứ 3 trong thắng lợi 3-0 của Pháp.Cùng với các đồng đội anh nhận được Bắc Đẩu Bội Tinh– huân chuơng cao quý nhất của nước Pháp năm 1998.

Sau đó anh là lựa chọn đầu tiên cho vị trí trung vệ trong thắng lợi của Pháp tại Euro 2000 khi mà họ đã đánh bại Italia trong trận chung kết nảy lửa. Anh cũng chơi 3 trận tại World Cup 2002, giải mà Pháp đã bị loại ngay từ vòng đấu bảng. Anh đã bị chấn thương và không thể thi đấu trong trận gặp Hi Lạp tại Euro 2004.

Vieira đảm nhận băng đội trưởng đội tuyển Pháp sau khi Zinedine Zidane tuyên bố nghỉ thi đấu quốc tế nhưng đó là cách để thuyết phục Zidane quay trở lại trong chiến dịch vòng loại World Cup 2006. Vào 5-8-2006 anh lại được chỉ định chức vụ đội trưởng đội Pháp.

Vào sinh nhật 23-6-2006 Vieira đã đeo băng đội trưởng trong trận đấu vắng mặt Zidane, cũng cùng sinh nhật vào ngày đó, và anh đã ghi bàn thắng đầu tiên khi Pháp đánh bại Togo 2-0 tại vòng bảng World Cup 2006. Để rồi chính anh là người tạo cơ hội cho Henry dứt điểm ấn định tỉ số. Chiến thắng này đã giúp Pháp lọt vào vòng đấu loại trực tiếp xếp thứ 2 sau Thụy Sĩ. Ở vòng đấu loại trực tiếp 1/16 Vieira ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 3-1 trước Tây Ban Nha. Pháp đã dành chiến thắng xứng đáng 1-0 trước Brazil ở tứ kết trong một trận đấu đáng nhớ rồi sau đó là trước Bồ Đào Nha cũng với tỉ số đó tại bán kết để đưa họ vào trận chung kết gặp Italia. Đã từng chơi rất nhiều trận chung kết, lần này anh được ra sân ngay từ đầu nhưng phải thay ra vào hiệp hai vì chấn thương. Kết quả cuối cùng: Italia giành chiến thắng 5-3 trong loạt đá Penalty đầy may rủi sau 120 phút thi đấu chính thức với kết quả hòa 1-1. Cho đến tháng 9-2006, Vieira đã khoác áo đội tuyển QG tổng cộng 97 lần và ghi được 6 bàn thắng.

Danh hiệu

Với đội tuyển quốc gia:
· FIFA World Cup
o Appearances: 1998, 2002, 2006.
o Winner: World Cup 1998
o Runner Up: World Cup 2006
· European Championship
o Appearances: 2000, 2004.
o Winner: Euro 2000
Với Arsenal:
· English Premiership: 1997-98, 2001-02, 2003-04.
· English FA Cup: 1998, 2002, 2003, 2005.
· Carlsberg Player of the Year : 2004
Với Juventus
· Serie A Scudetto: 2005-06 ( nhưng sau đó đã bị tước do Juventus bị phát hiện có dính líu đến vụ scandal dàn xếp tỉ số).
Một số danh hiệu khác:
Được chọn vào top 100 cầu thủ của FIFA: 2004
Bắc Đẩu Bội Tinh – huân chương cao quý nhất của nước Pháp năm 1998.

henry_henry
08-03-2008, 12:08 PM
Dennis Bergkamp - Một huyền thoại của lối đá đẹp

http://www.sporting-heroes.net/files_football/BERGKAMP_D_19950910_SF_R.jpg

Tên đầy đủ: Dennis Nicolas Bergkamp

Giờ đây tên anh đã không còn có trong danh sách những cầu thủ của Arsenal nữa. Anh đã giã từ sự nghiệp thi đấu của mình trong một bầu không khí ấm áp tình yêu dâng trào cảm xúc của hơn 54.000 cổ động viên trên sân Emirates, của ban huấn luyện Arsenal và của hàng triệu người yêu mến anh trên khắp thế giới.

Chia tay anh, người ta sẽ còn nhắc đến anh như một huyền thoại của Highbury. Là người dường như gắn bó lâu đời nhất với Arsenal (anh đến trước cả vị HLV đáng kính Arsene Wenger), cái tên anh gắn liền với Arsenal, gắn liền với một thứ bóng đá vị nghệ thuật. Nếu như người ta nói, nhân loại chỉ có một Vincent van Gogh, thì trong thế giới bóng đá, cái tên anh cũng sẽ không thể lẫn được vào đâu giữa muôn vàn tinh tú.

Anh đã cùng Arenal vượt qua bao thăng trầm để có được ngày hôm nay. Ngôi nhà Arsenal sẽ lưu danh anh như một huyền thoại. Anh là Dennis Bergkamp…

1.Họ và tên đầy đủ: Dennis Nicolas Bergkamp
Tên anh được lấy theo Denis Law, huyền thoại bóng đá người Scotland mà cả gia đình anh ngưỡng mộ. Khi đăng ký khai sinh, người ta đã không chấp nhận chữ Denis vì lý do khó đánh vần, nên cha anh đã phải thêm vào 1 chữ n!
2.Ngày sinh: 15/5/1969
Tại Amsterdam, Hà Lan.
3.Cao: 1m83
4.Nặng: 78kg
5.Vị trí : Tiền đạo
6.Những đội bóng đã từng thi đấu: Ajax, Inter Milan và Arsenal
7.Gia nhập Arsenal: 3/7/1995 với giá £7,500,000.
8. Tổng hợp thành tích:
-Số bàn thắng tính tại giải VĐQG:
Ajax: Thi đấu 185 trận ghi được 103 bàn thắng
Mùa giải Trận đấu Bàn thắng Giải đấu

1986-1987 14 2 (Eredivisie 1)
1987-1988 25 5 (Eredivisie 1)
1988-1989 30 13 (Eredivisie 1)
1989-1990 25 8 (Eredivisie 1)
1990-1991 33 25 (Eredivisie 1)
1991-1992 30 24 (Eredivisie 1)
1992-1993 28 26 (Eredivisie 1)

Inter Milan: Thi đấu 52 trận ghi được 16 bàn thắng

1993-1994 Played 31 Scored 8 goals (Serie A)
1994-1995 Played 21 Scored 3 goals (Serie A)

Arsenal: Thi đấu 251+49 trận ghi được 85 bàn thắng( tính đến thời điểm 5/11/2005)

1995-1996 Played 33 Scored 11 goals (Premiership)
1996-1997 Played 29 Scored 12 goals (Premiership)
1997-1998 Played 28 Scored 16 goals (Premiership)
1998-1999 Played 29 Scored 12 goals (Premiership)
1999-2000 Played 28 Scored 6 goals (Premiership)
2000-2001 Played 25 Scored 3 goals (Premiership)
2001-2002 Played 33 Scored 9 goals (Premiership)
2002-2003 Played 29 Scored 4 goals ((Premiership)
2003-2004 Played 28 Scored 4 goals (Premiership)
2004-2005 Played 29 Scored 8 goals (Premiership)

Tại Ajax anh có được 2 chiếc cup Hà Lan, 1 European Cup Winners Cup, 1 UEFA Cup, 2 lần trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trong năm và 1 lần dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu năm 1993.
Với Inter anh dành được 1 chiếc cup Uefa năm 1994.
Và tại Arsenal 3 lần dành chức vô địch PL, 4 lần dành FA Cup, Cầu thủ xuất sắc nhất của năm và ghi được nhiều bàn thắng tuyệt mĩ.

Sự nghiệp thi đấu

Có lẽ viết về Bergy (tên thân mật của anh) đã có rất nhiều những bài báo và nhiều phong cách khác nhau. Trong quá khứ Arsenal đã luôn tự hào mà thốt lên rằng:"Chúng tôi có Dennis Bergkamp" và bây giờ anh đã từ giã câu lạc bộ sau khi chơi trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp thi đấu của mình trên sân vận động mới Emirates. 25 năm trong sự nghiệp anh đã cống hiến cho bóng đá những bàn thắng đẹp nhất lịch sử. Trưởng thành từ lò đào tạo của Ajax và gắn bó 7 năm với câu lạc bộ, sau đó anh chuyển sang chơi cho Inter từ 1993 đến 1995. Và từ 1995 đến 2006 anh khoác trên mình chiếc áo đỏ trắng của The Gunners, ở nơi đây anh trở thành một trong những huyền thoại vĩ đại của câu lạc bộ.

Sự nghiệp trước khi đến với Arsenal

Dennis Bergkamp gia nhập Ajax khi anh lên 12 tuổi , anh đã trưởng thành tại đây và trận đấu đầu tiên anh được chơi tại đội hình chính của Ajax là năm 1986 ở tuổi 17 trong trận gặp Roda. Một điều đặc biệt là tài năng của Bergkamp ở đội trẻ Ajax đã được phát hiện bởi Johan Cruyff, và chính ông này đã gạt bỏ mọi chỉ trích để quyết đưa anh vào sân trong trận đấu đó. Trong 7 năm gắn bó Dennis đã giúp Ajax dành Cup C2 năm 1987, VĐQG 1990 và UEFA Cup năm 1992.

Tại Ajax, Bergkamp đã từng 3 năm liền là Vua phá lưới tại giải VĐQG, đó là vào các năm 1991, 1992, 1993. Anh được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất Hà Lan năm 1992, 1993.

Cũng trong thời gian đó, lần đầu tiên Bergkamp được khoác áo đội tuyển quốc gia là tại trận đấu với Italia năm 1990, tiếp theo là tham dự Euro cùng đội tuyển Hà Lan năm 1992. Trong trận đấu ở vòng bán kết Hà Lan đã thất bại, nhưng những ấn tượng anh để lại đã làm cho BHL Inter Milan phải bỏ ra khoản tiền 12 triệu bảng để có đuợc anh. Và tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi 2 năm ở Milan anh đã cùng Inter Milan dành chức vô địch UEFA Cup năm 1994. Bergkamp đã nói rằng khoảng thời gian ở Italia mới thực sự ''giúp tôi thực sự là một cầu thủ bóng đá''. Và Tại Serie A, trong màu áo Inter Milan, Bergkamp đã ghi được 11 bàn thắng trong 52 trận.

Đội tuyển Hà Lan của Bergkamp lọt vào đến vòng tứ kết World Cup 1994 nhưng lại chịu thất bại 3-2 trước Brazil.

Những tháng ngày hạnh phúc tại Arsenal

Khoảng thời gian ở Italia là những tháng ngày không mấy hạnh phúc và chuỗi ngày đó cũng khép lại khi anh được Bruce Rioch đưa về với sân Highbury của Arsenal với giá 7.5 triệu bảng ngày 3/7/1995. Và từ đây một huyền thoại mới của câu lạc bộ ra đời....

Arsenal đã thổi một luồng sinh khí mới vào Dennis Bergkamp. Nhưng tại sao lại là Arsenal?

"Tôi đã quyết định rời Italia và đội bóng đầu tiên tôi muốn tới đó chính là Arsenal. Họ là một đội bóng đoàn kết và đó là những gì tôi muốn, đó là nền tảng để cho bạn đứng vững trước khi bạn cố gắng làm một việc gì đó. Mọi lạ lẫm cũng qua tại câu lạc bộ mới. Tôi nghĩ rằng đây là công việc của mình và tôi không biết gì về một Arsenal "buồn chán" tại thời điểm đó.” Chủ tịch Inter, Massimo Moratti đã từng gọi điện cho Dennis và nói rằng:"Họ (Arsenal) sẽ thật là may mắn nếu cậu ghi được 10 bàn thắng cho họ ở mùa giải này".

Lúc đầu những cái title to tướng được đăng lên khi mà đã 7 trận mà Dennis không ghi bàn. Họ nói Arsenal đã "liều lĩnh" khi mua Dennis. Nhưng rồi chuyện gì đến cũng phải đến. Dennis có bàn thắng đầu tiên (anh ghi 2 bàn) cho Arsenal trong trận thắng 4-2 trước Southampton tại Highbury và trái bóng đã bắt đầu lăn....

"Bạn có thể cho rằng tôi là một ngôi sao tồi khi so sánh với những gì trước đó. Phải mất một thời gian để có thể thích nghi với những thay đổi khi chuyển về từ Inter. Nhưng tôi thích điều đó và bàn thắng đầu tiên đó đã chấm dứt mọi nghi hoặc.
Tại Euro 96 Hà Lan lại gây thất vọng khi để thua Anh 4-1. Bergkamp buồn bã rời sân.

Có anh trong đội hình thi đấu là một điều quan trọng của câu lạc bộ nhưng ở những trận đấu tại Châu Âu chứng sợ máy bay đã ngăn cản anh có thể tham dự những trận đấu đó. Và cái biệt danh "Người Hà Lan không bay" cũng xuất phát từ đó.

Năm thứ hai Bergkamp có mặt tại Arsenal, Wenger đến và trở thành người thầy vĩ đại của các cầu thủ Arsenal trong đó có Dennis. Wenger đã làm người ta quên đi cái biệt danh "Arsenal nhàm chán" mà người ta gắn cho họ.

"Tôi cảm thấy mình có một chút đóng góp gì đó vào lối chơi tấn công của Arsenal nhưng sau này còn nhiều điều phải học hỏi nữa. Wenger đã cho tôi thấy điều đó khi ông mang về Patrick Vieira, Emmanuel Petit, Marc Overmars thế hệ những cầu thủ trụ cột nâng tầm cao mới cho Arsenal sau này”.

Bàn thắng cứ nối tiếp bàn thắng và Dennis trở thành 1 trong 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại cho câu lạc bộ.

Bergkamp đã có được tất cả 120 bàn thắng trong 423 trận đấu. Anh có được 5 DVD trong sự nghiệp của mình. Hery đã nói:"Khi Bergkamp ghi bàn thì đó không phải là những bàn thắng thông thường mà nó được gắn nhãn hiệu của riêng anh ấy-nhãn hiệu bàn thắng mang tên Dennis Bergkamp".

Mùa giải 1997-1998 đánh dấu thời điểm đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của Bergkamp: số bàn thắng và trận thi đấu mỗi mùa giải. Thực tế: tỉ lệ là 0.29 bàn/ trận cao hơn khi anh thi đấu cho Inter 0.21 bàn/ trận và thấp hơn khi ở Ajax 0.56 bàn/trận.

Anh lập hattrick trong trận hòa 3-3 với Leicester. Anh cùng Arsenal có được hai danh hiệu lớn là Vô địch Premierships và cup FA năm 1998.

Khi bắt đầu mùa giải HLV Wenger đã nói:"Bạn không cho rằng cậu ấy lầ cầu thủ xuất sắc nhất thế giới tại thời điểm này? Nếu bạn cho rằng có một người nào đó chơi tốt hơn cậu ấy thì có nghĩa là đã không xem cậu ấy thi đấu." Với 22 bàn thắng ghi được chiếc áo số 10 đã vượt qua tất cả để dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Premiership năm đó, anh được xếp thứ 3 trong bảng xếp những cầu thủ xuất sắc nhất của năm do FIFA bình chọn. Và tên anh đã được những cổ động viên trìu mến viết trong bài hát của câu lạc bộ " Walking in a Bergkamp Wonderland".

Tại World Cup 1998 Bergkamp đã ghi một bàn thắng tuyệt đẹp nhưng cũng không thể giúp Hà Lan đi tiếp vào chung kết.

Sau đó Bergkamp tiếp tục cùng Arsenal chiến đấu tại các giải đấu mặc dù họ chỉ dành ngôi vị Á quân 2 năm tiếp sau đó.

The Gunner tiến được tới vòng chung kết cup UEFA năm 2000 nhưng sau 90 phút chính thức họ để hòa 0-0 và chịu thất bại 4-1 trên chấm phạt đền trước Galatasaray của Thổ Nhĩ Kì.

Bergkamp kết thúc sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình sau Euro 2000. Ghi được 37 bàn thắng cho đội tuyển trong 79 lần có mặt, anh gĩư một kỉ lục của đội tuyển Hà Lan.

Anh đã ghi được Bàn thắng đẹp nhất PL năm 2002. Và cũng trong năm đó Arsenal vô địch PL và dành FA cup.

Năm 2003 anh lại cùng Arsenal dành FA cup một lần nữa và là một phần trong chuỗi trận bất bại lịch sử năm 2004 của Arsenal.

Mùa giải 2005-2006 mùa giải cuối cùng của anh tại Arsenal, đã 36 tuổi, anh không được ra sân thường xuyên nhưng lại ghi những bàn thắng quyết định cho câu lạc bộ. Bàn thắng của anh trong trận thắng West Brom làm người ta nhớ đến một Bergkamp của thời đỉnh cao, nó vẫn đuợc đóng dấu nhãn hiệu Dennis Bergkamp.

Wenger đã nói:"Anh ấy là một cầu thủ của sự thông minh và đẳng cấp. Đẳng cấp thể hiện ở cách bạn khống chế bóng nhưng sự thông minh giúp cho bạn sử dụng những kĩ thuật đó vào trận đấu. Những gì anh ấy đã làm là chơi bắng trí óc và sự tưởng tượng". Anh trở thành người đồng đội được yêu mến nhất tại Highbury. Anh đã cùng Henry phá vỡ những kỉ lục của quá khứ.

Mùa bóng 2005-2006. Trận chung kết trong mơ lần đầu tiên của Arsenal đến với biết bao nỗ lực của cả một tập thể đoàn kết. Bergkamp cũng đến. Anh đã phải chạy ôtô suốt một chặng đường dài sang tận Paris để có thể chứng kiến đội mình thi đấu. Nhưng rồi họ lại để tuột mất cơ hội đó vào tay Barca...Một kết cục đau đớn...

Nhưng dù không có được cup C1, tất cả những kỉ niệm không thể quên được tại Arsenal nơi mà anh đã gắn bó 11 năm còn bội phần quý giá hơn cup C1.

Giây phút chia tay

Ngày 21/7 sân vận động Emirates trị giá 390 triệu bảng mở cửa trước hết để chào đón những cổ động viên đến với sân đấu mới của đội chủ nhà và quan trọng hơn là để nói lời tạm biệt với một huyền thoại - Dennis Bergkamp.

Họ ca vang "Walking on the Bergkamp Wonderland". Những guơng mặt huyền thoại một thời của cả Arsenal và Ajax cùng góp mặt. Họ chơi bóng và cùng gửi lời chào tới anh.

Bergkamp không có ý định trở thành một người quản lí hay HLV bóng đá. Anh hạnh phúc khi giã từ sân cỏ. Với 37 triệu bảng có trong ngân hàng anh sẽ tận hưởng cuộc sống bên gia đình hạnh phúc của mình, với người vợ xinh đẹp và 3 đứa con ngoan.

"Thật khó để có thể từ bỏ tất cả nhưng có những điều cần thiết còn cần phải làm. Tôi vẫn sẽ theo dõi từng bước đi của Arsenal. Bóng đá đã gắn với cuộc sống của tôi 25 năm và có thể một lúc nào đó tôi sẽ trở lại làm một điều gì đó cho bóng đá".

Chúng ta cùng gửi lời chúc đến anh một huyền thoại thật sự của Arsenal. Anh sẽ mãi lưu danh trong câu lạc bộ và trong trái tim nhưng người hâm mộ.

henry_henry
08-03-2008, 12:10 PM
Nigel Winterburn - Thành viên của bộ tứ huyền thoại

http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/_38124676_srwinterburn150.jpg

Họ và tên: Nigel Winterburn
Sinh: 1963-12-11 tại Arley Warwickshire, Anh quốc
Vị trí: Hậu vệ cánh trái
Câu lạc bộ cũ

Năm CLB Trận ( Số bàn thắng)
1981-1982 Birmingham City 0 (0)
1982-1983 Oxford United 0 (0)
1983-1987 Wimbledon 165 (8)
1987-2000 Arsenal 440 (8)
2000-2003 West Ham United 82 (1)

Tại đội tuyển quốc gia

1990–1991 Anh B 3(0)
1990–1993 Anh 2 (0)

Nigel Winterburn, một cầu thủ bóng đá người Anh, là một trong bộ tứ vệ huyền thoại cuối thập kỷ 80 và trong thập kỷ 90 của Arsenal. Hiện nay ông đã giải nghệ.

Đá hậu vệ trái, Winterburn bắt đầu sự nghiệp chơi bóng của mình tại Clb Birmingham City. Mặc dù đã từng được gọi vào đội trẻ của tuyển Anh, nhưng ông chưa từng được đưa vào đội hình chính thức tại Clb. Ông chuyển sang chơi cho Clb Oxford United, sau đó vào năm 1983, ông được Dave Bassett đưa về gia nhập Wimbledon theo hình thức chuyển nhượng tự do, đội bóng này vẫn đang tiếp tục những bước tiến vững chắc trên con đường thăng hạng sau khi đạt được những thành công từ giải non-league (giải phong trào) 6 năm trước. Winterburn được xem là nguồn sức mạnh tinh thần rất lớn của Wimbledon và ông cũng dành được những danh hiệu ở đội U21 Anh.

Winterburn là thành viên năng nổ trong đội hình tiêu biểu đã dành quyền lên chơi ở giải hạng Nhất năm 1986. Đội hình này gồm có những cầu thủ giàu kinh nghiệm như John Fashanu và Lawrie Sanchez. Trong mùa giải đầu tiên của họ ở giải đấu danh giá, họ đã về đích ở vị trí nửa trên của bảng xếp hạng, vào đến tứ kết cúp FA, và chỉ chịu thua Tottenham Hotspur, đội đã vào chung kết.

Trong 4 mùa giải chơi tại sân Plough Lane, Winterburn đã từng được các cổ động viên bầu cho danh hiệu cầu thủ của năm, thành tích tuyệt vời của ông đã khiến cho huấn luyện viên của Arsenal, George Graham – người đang tìm kiếm cầu thủ có thể thay thế lâu dài cho đội trưởng Kenny Sansom – đặc biệt quan tâm.

Vào mùa hè năm 1987, Arsenal đã chi 350,000 bảng cho Wimbledon để đưa Winterburn về sân Highbury. Ông đã không cạnh tranh được vị trí với Sansom, cầu thủ trụ cột của đội tuyển Anh. Lần đầu tiên được ra sân, ông xuất hiện bên cánh phải của đội bóng, một phương pháp thay thế mang tính bắt buộc của Graham sau khi vị huấn luyện viên này không thành công trong việc tìm cầu thủ xứng đáng để thay thế cho Viv Anderson.

Mặc dù thuận chân trái, nhưng Winterburn đã đảm nhiệm bên cánh phải bằng hết khả năng của mình. Tuy nhiên ông sớm liên quan đến 2 sự kiện gây nhiều tranh cãi ở mùa giải đầu tiên của mình. Vụ việc đầu tiên xảy ra trong 1 trận đấu tại cúp FA trên sân vận động Highbury, ông đã công khai trêu tức tiền đạo của Manchester United là Brian McClair sau khi cầu thủ này bỏ lỡ quả penalty. Chuyện này đã gây nên làn sóng chỉ trích Winterburn vào thời điểm đó

Vụ việc thứ hai xảy ra trong trận chung kết cúp Liên Đoàn cuối mùa giải đó. Mặc dù thi đấu không tốt đầu trận, nhưng Arsenal vẫn là đội chiếm lĩnh thế trận và đang dẫn trước Luton Town 2-1 trên sân Wembley. Khi thời gian chỉ còn chưa đầy 15 phút nữa là hết giờ thì David Rocastle đã ngã trong vòng cấm địa của đội Luton. Michael Thomas là cầu thủ được chỉ định thực hiện đá phạt đền cho Arsenal trong phần lớn mùa giải nhưng không thể giải thích lý do tại sao, Winterburn lại là người đặt bóng vào chấm phạt đền. Ông chưa từng đá phạt đền cho Arsenal bao giờ, bình luận viên Brian Moore đã vô cùng ngạc nhiên – "Đây đúng là một quyết định kỳ lạ!" – và Winterburn đã bước lên chấm phạt đền.

Ông đá mạnh vào góc phải phía dưới khung thành, nhưng thủ môn đội Luton, Andy Dibble đã đoán chính xác hướng bóng và đẩy bóng ra ngoài sát cột dọc. Nếu như Winterburn ghi bàn, Arsenal gần như chắc chắn sẽ dành chiến thắng với tỷ số 3-1. Thay vì vậy, Luton đã thi đấu đầy nỗ lực và đã có hai bàn thắng trong 10 phút cuối trận, dành chiến thắng chung cuộc. Dù đá hỏng quả penalty, nhưng Winterburn – người chịu chỉ trích nhiều nhất – cũng không mắc sai lầm như Gus Caesar (người thay thế cho David O'Leary, không thể tham gia trận chung kết do chấn thương) khi cầu thủ này phá bóng trượt tạo cơ hội cho Luton cân bằng tỷ số 2-2.

Hậu vệ Sansom rời Arsenal vào mùa hè và kết quả là Winterburn được chuyển sang chơi với vai trò hậu vệ cánh trái quen thuộc, và ông đã đá ở vị trí này trong hơn 1 thập kỷ. Ông và người đồng đội Lee Dixon bảo vệ vững chắc 2 bên cánh, cùng với đội trưởng Tony Adams và cầu thủ kỳ cựu David O'Leary cũng như Steve Bould – đến Arsenal trong mùa giải 1989 - là những hậu vệ xuất sắc. Thường thì huấn luyện viên sẽ sử dụng cả năm cầu thủ khi Arsenal gặp đội đầu bảng Liverpool ở trận đấu cuối cùng của mùa giải, trận đấu quyết định chức vô địch giải hạng Nhất (nay là giải Ngoại hạng) trên sân Anfield. Ngôi vị vô địch gần nhất mà các cầu thủ Arsenal dành được là cú đúp năm 1971.

Tình hình của Arsenal buộc họ phải dành chiến thắng 2 bàn cách biệt thì mới có thể dành chức vô địch. Pha sút phạt của Winterburn đã đã tạo điều kiện cho Alan Smith ghi bàn thắng mở tỷ số nhanh chóng sau khi hiệp hai bắt đầu, bàn thắng thứ hai được thực hiện khi Thomas thoát xuống giữa sự kèm cặp của hàng hậu vệ Liverpool, nhận bóng từ đồng đội và ghi bàn ở những phút bù giờ, cổ động viên của Arsenal vỡ oà trong sự vui sướng.

Cuối năm đó, Winterburn lần đầu tiên được xuất hiện trong màu áo đội tuyển Anh, ông được thay vào sân trong trận gặp Italia khi tỷ số đang hoà 0-0. Mặc dù nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng như huấn luyện viên của Arsenal thường xuyên ca ngợi những ưu điểm của hậu vệ cánh trái người Anh này nhưng huấn luyện viên đội tuyển Anh, ông Bobby Robson, chỉ xem Nigel là sự lựa chọn thứ 3 ở vị trí hậu vệ trái tại World Cup 90, sau Stuart Pearce và Tony Dorigo. Chỉ khi có chấn thương mới có cơ hội vào sân cho Winterburn, nhưng điều đó đã không xảy ra. Tuy nhiên ông đã được ra sân trong đội hình B.

Arsenal kết thúc mùa giải 1990 mà không có danh hiệu nào,nhưng Winterburn và những đồng đội của ông ở hàng phòng ngự - giờ đã được tăng cường khi có thêm thủ môn David Seaman mới chuyển tới – đã tái khẳng định khả năng phòng ngự chắc chắn của họ khi đoạt lại được chứ vô địch với chỉ một trận thua duy nhất ở mùa giải tiếp theo. Hai năm sau, Winterburn đã dành được cú đúp với Arsenal và đã hoàn tất bộ sưu tập huy chương ở giải trong nước của mình. Arsenal đánh bại Sheffield Wednesday 2-1 ở cả 2 trận chung kết cúp Liên Đoàn và cúp FA, trận chung kết FA đá lại do hai đội hoà 1-1.

Phong độ của Winterburn đã khiến cho huấn luyện viên đội tuyển Anh Graham Taylor gọi ông trở lại đội tuyển trong giải đấu được tổ chức ở Mỹ, giải đấu mà đội Anh đã không thành công khi để thua đội chủ nhà 2-0. Winterburn được ra sân để thay thế cho cầu thủ chạy cánh của đội Manchester United Lee Sharpe trong trận cuối cùng gặp đội tuyển Đức.

Năm 1994, giới chuyên môn về bóng đá đã bày tỏ sự đánh giá rất cao Winterburn và các đồng đội của ông ở hàng phòng ngự của Arsenal sau khi họ kèm cặp được bộ ba tấn công rất xuất sắc người Ý bên phía Parma là Faustino Asprilla, Tomas Brolin và Gianfranco Zola. Họ đã bảo vệ được kết quả dẫn trước 1-0 sau khi Smith giúp Arsenal vượt lên dẫn trước ở phút thứ 20. Họ đã thi đấu với sự tự tin và dành được chiếc cúp C2, đây là thành công đầu tiên của Arsenal tại đấu trường châu lục trong một phần tư thế kỷ. Họ không gặp nhiều may mắn trong những năm tiếp theo khi họ đi đến trận đấu cuối cùng. Trong trận chung kết cúp C2 ngay năm sau đó gặp đội Real Zaragoza, trận đấu đang có tỷ số hoà 1-1 và mọi người đã nghĩ đến những loạt đá penalty, thì Nayim (cầu thủ cũ của Tottenham, đối thủ không ưa thích của Arsenal) bằng một cú sút bóng từ vạch giữa sân đã ghi bàn thắng ở thời gian đá hiệp phụ, đem về chức vô địch cho Real Zaragoza ở ngay phút cuối cùng.

Arsène Wenger đến dẫn dắt Arsenal vào cuối năm 1996 và ông đã truyền cảm hứng mới vào đội bóng Arsenal, sử dụng hàng hậu vệ đã có tuổi (Adams đã 30 tuổi nhưng là cầu thủ trẻ nhất; Martin Keown cũng chuyển tới để thay thế cho O'Leary, giải nghệ sau thành công ở FA cúp năm 1993), giúp họ tiếp tục chơi bóng và dành được một số thành công trong những năm sau đó. Với 6 sáu cầu thủ kinh nghiệm ở hàng phòng ngự sử dụng tiếng bản xứ, những cầu thủ tài năng mới chuyển đến đã được giúp đỡ để sớm hoà nhập với đội bóng, Arsenal dành cú đúp vào năm 1998, vô địch giải ngoại hạng và cúp FA. Winterburn được huấn luyện viên tạm quyền, Howard Wilkinson gọi trở lại đội tuyển Anh trong trận đá giao hữu với Pháp năm 1999 nhưng ông không có tên trong đội hình chính thức của Wilkinson, cả Seaman, Adams, Keown và Dixon đều được đá chính nhưng Winterburn đã không cạnh tranh được với Graeme Le Saux ở vị trí hậu vệ trái và phải ngồi trên băng ghế dự bị, kết quả đội Anh bị thua với tỷ số 2-0.

Vào năm 2000, Arsenal tiến tới trận chung kết UEFA Cup nhưng Winterburn đã không có được xuất chính thức trong đội khi vị trí hậu vệ cánh trái được trao cho cầu thủ người Braxin Silvinho. Sau đó ông dần dần bị cầu thủ trẻ Ashley Cole thay thế trong vòng 12 tháng tiếp theo. Mặc dù sự nghiệp lừng lẫy tại Arsenal đã kết thúc nhưng sẽ khó có ai sánh ngang được với những thành tích của Winterburn.

Winterburn chuyển sang chơi cho West Ham United sau 429 trận thi đấu dưới màu áo Arsenal ở giải ngoại hạng (ghi được 8 bàn thắng – trong đó có một số bàn thắng ngoạn mục được ghi từ ngoài vòng cấm địa). Ông đã chơi 3 mùa giải cuối cùng của sự nghiệp cầu thủ tại Upton Park trước khi giải nghệ ở tuổi 40. Hiện nay ông làm bình luận viên cho các trận đấu. Winterburn được các cổ động viên của Arsenal đặt cho biệt danh trìu mến là 'sóc điên'.

Winterburn hiện nay đã giải nghệ và về sống ở Weston Turville, gần Aylesbury, Bucks với vợ và 3 con.

henry_henry
08-03-2008, 12:12 PM
Ray Parlour


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/parlour.jpg

Tên đầy đủ: Raymond Parlour
Sinh ngày: 7/3/1973
Nơi sinh: Romford, Anh
Biệt danh: The Romford Pelé, Pizza

Trưởng thành từ đội trẻ Arsenal 1989-1992

Thời gian CLB Trận/bàn thắng
1992-2004 Arsenal 339 trận (22) bàn
2004- Middlesbrough 46 trận (3) bàn
-Thi đấu cho đội tuyển QG:

1992-1994 U21 Anh 12 (0)

1998-2000 Tuyển Anh 10 (0)

Sự nghiệp bóng đá

Parlour là một trong những người xuất sắc nhất ở lứa cầu thủ của anh ở Arsenal, nơi anh đã gắn bó suốt 14 năm trong sự nghiệp của mình. Parlour gia nhập Arsenal với tư cách một cầu thủ học việc năm 1989. Và anh có trận đấu đầu tiên tại đội hình 1 ngày 29 tháng 1, 1992 trong trận gặp Liverpool trên sân Anfield. Trong trận đấu đó the Gunners đã thua với tỉ số 0-2.

Parlour tiếp tục thăng tiến trong sự nghiệp của mình một vài năm sau. Trong khoảng thời gian đó anh được đá cho đội tuyển U21 Anh và được ra sân 12 trận. Sau đó anh có phong độ tốt vào khoảng năm 1994-95 và được chơi trận chung kết Cup Winners' Cup. Tuy nhiên Arsenal đã để thua Real Zaragoza.

Ray Parlour chỉ thực sự phát huy được hết tài năng của mình khi Arsène Wenger đến với Arsenal năm 1996. Anh trở thành một sự lựa chọn thường xuyên cho vị trí tiền vệ cánh phải hay tiền vệ trung tâm trong đội hình Arsenal.

Năm 1997-1998 Arsenal dành cú đúp vô địch PL và FA cup và Parlour cũng đóng góp một phần không nhỏ vào thành tích đó. Anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu trong trận chung kết FA cup với Newcastle United năm đó. Anh là người đã kiến tạo cho Nicolas Anelka ghi 2 bàn giúp Arsenal dành thắng lợi 2-0.

Tuy nhiên anh đã không có mặt tại World Cup 1998 và HLV Glenn Hoddle đã đưa Darren Anderton vào thay vị trí của anh.

Parlour có trận đấu đầu tiên trong sự nghiệp thi đấu Quốc tế cho đội tuyển quốc gia là tại vòng loại Euro 2000 trong trận đấu với Ba Lan, ngày 27/3/1999. Anh đã có 10 lần khoác áo đội tuyển quốc gia tuy vậy anh đã không ghi được bàn thắng nào.

Lần gần nhất anh có mặt đó là tại vòng sơ loại 2002 FIFA World Cup trong trận gặp Finland ngày 11/11/2000. Trong trận đấu đó anh đã có một cú sút từ tầm 30 yard. Bóng đập xà ngang và ra ngoài. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 0-0. Parlour chưa từng dành được danh hiệu riêng nào cho mình trong những trận chung kết. Chấn thương đầu gối đã buộc anh phải vắng mặt tại Euro 2000. Lần có mặt cuối cùng của anh là trong trận đấu giao hữu với Italy ngày 15/11/2000. Sau đó Parlour còn được gọi vào đội tuyển một vài lần bởi HLV Sven-Goran Eriksson.

4 năm sau đó anh tiếp tục gặt hái thành công tại Arsenal (trong đó có cú đúp năm 2002) nhưng nhìn chung anh là một người thầm lặng và ít được sự chú ý của các cổ động viên hơn so với những đồng đội nổi tiếng khác tại Arsenal. Đặc biệt là anh luôn bị núp dưới bóng của Patrick Viera trong phần lớn thời gian anh ở câu lạc bộ. Cuối cùng anh đã khẳng định được vị trí của mình bằng bàn thắng ở khoảng cách 30 yard mở tỉ số trong trận chung kết FA cup với Chelsea năm 2002. Bàn thắng được bình chọn là bàn thắng đẹp nhất trận đấu và "never mind, only Ray Parlour" (không cần nghĩ, chỉ có thể là Ray Parlour). Arsenal dành thắng lợi 2-0. Bàn thắng còn lại được ghi bởi Fredrik Ljungberg. Trong suốt thời gian ở Arsenal anh đã 3 lần cùng Arsenal đạt PL, 4 chiếc cup FA, 1 League cup và 1 European Cup Winners' Cup. Parlour đã chơi 467 trận cho câu lạc bộ và ghi được 32 bàn thắng.

Mùa hè năm 2004 anh chuyển đến Middlesbrough trong sự tiếc nuối của nhiều cổ động viên Arsenal. Trong trận chung kết Cup UEFA năm 2006 anh đã không được ra sân. Trận đấu đó Middlesbrough thua 4-0 trước Sevilla. Hiện giờ Parlour đang trải qua một khóa huấn luyện của FIFA để lấy bằng huấn luyện viên.

Cuộc sống gia đình

Parlour cưới Karen năm 1998 họ đã có 3 con trước khi sống li thân. Tháng 7 năm 2004 họ li hôn. Karen Parlour có được 2 ngôi nhà trị giá £250,000 và nhận £406,500 mỗi năm tiền nuôi con trong vòng 4 năm. Đây là một trong những vụ li hôn đình đám nhất nước Anh.

henry_henry
08-03-2008, 12:13 PM
Ian Wright - Tiền đạo vĩ đại


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ianwright.jpg

Tên đầy đủ: Ian Edward Wright
Ngày sinh: 3/11/63
Nơi sinh: Woolwich, Anh
Vị trí: Trung phong

Thi đấu chuyên nghiệp*

Năm Câu lạc bộ Trận (bàn thắng)
1984-1985 Greenwich Borough
1985-1991 Crystal Palace 228 (89)
1991-1998 Arsenal 288 (185)
1998-1999 West Ham United 22 (9)
1999-2000 Nottingham Forest (cho mượn) 10 (5)
1999-2000 Celtic 8 (3)
2000 Burnley 15 (4)

Tuyển quốc gia
1991-1998 Anh 31 (9)

* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước.

Ian Edward Wright, Tước hiệu Hiệp sĩ- sinh ngày 3/11/1963 tại Woolwich, London trước đây là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và bây giờ là người nổi tiếng trên sóng truyền hình và truyền thanh.

Sự nghiệp cầu thủ

Ian Wright trở thành cầu thủ chuyên nghiệp rất muộn. Sau khi bị Millwall và Brighton từ chối, anh chơi bóng ở giải nghiệp dư với những người lao động, thợ làm thạch cao. May mắn là ở Greenwich Borough, anh đã được để ý bởi người tìm kiếm tài năng Peter Prentice của Crystal Palace. Anh kí hợp đồng chuyên nghiệp dài hạn với Palace năm 1985 ở tuổi 22. Tổng cộng, “Satch” ( biệt danh của anh, sau biệt danh của Louis Armstrong) đã có 6 mùa giải ở Palace và vào năm 2005, anh được bầu chọn trong lễ Bách Niên của câu lạc bộ. Năm 2006, anh lại được vinh danh là “Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ” trong lịch sử Palace.

Anh nhanh chóng được chú ý đến trong mùa giải đầu tiên ở câu lạc bộ, ghi 9 bàn thắng để trở thành chân sút số 2 của Palace sau Phil Barber. Khi Mark Bright đến Palace trong năm tiếp theo, đã hình thành cặp tiền đạo hết sức thành công mà những bàn thắng của họ đã đưa câu lạc bộ vượt qua trận playoff năm 1989.

Wright được gọi vào đội B tuyển Anh vào tháng 12/1989 nhưng hai lần gãy xương ống chân đã làm giảm ảnh hưởng của anh ở Giải Hạng nhất. Ngoài ra, sau khi hồi phục sau chấn thương anh trở thành '”siêu dự bị'”. Trong trận chung kết FA Cup năm 90 với Manchester United, anh cân bằng tỉ số cho Palace chỉ vài phút sau khi được tung vào sân ở hiệp phụ. Cuối cùng tỉ số là 3-3, nhưng Palace thất bại 1-0 trong trận đá lại.

Mùa giải tiếp theo anh gặt hái được danh hiệu quốc tế đầu tiên, và đạt tới mốc 100 bàn thắng cho Crystal Palace. Anh lập cú đúp trong trận thắng Everton để đoạt Zenith Data Systems Cup tại Wembley. Wright trở nên nổi tiếng với khả năng săn bàn của mình, điển hình là màn trình diễn khi anh ghi 3 bàn thắng chỉ trong 18 phút tại trận áp chót của mùa bóng 1990-91 với Wimbledon.

Anh bắt đầu thi đấu cho Arsenal vào năm 1991 với phí chuyển nhượng £2.5 triệu, lúc đó là kỉ lục ở câu lạc bộ. Anh ghi bàn ngay trong trận ra mắt gặp Leicester City tại League Cup, và sau đó là 3 bàn thắng trong trận ra mắt ở League gặp Southampton. Anh đoạt danh hiệu Chiếc giày vàng trong mùa bóng đầu tiên và trở thành chân sút hàng đầu ở câu lạc bộ sau 6 mùa bóng. Anh là một phần quan trọng trong những thành công của câu lạc bộ trong những năm 90 của thế kỉ trước, đoạt cú đúp FA Cup và League Cup năm 1993; anh ghi bàn trong trận chung kết FA Cup và cả trong trận đá lại. Wright cũng giúp Arsenal đoạt European Cup Winners'Cup (cúp C3 cũ) năm 1994, mặc dù anh đã bị treo giò trong trận chung kết mà Arsenal đánh bại Parma 1-0.

Wright ghi bàn ở mọi vòng đấu của Arsenal ở Winners' Cup năm1995, thế nhưng thời gian cầm quân của Bruce Rioch đã mở ra một thời kì khó khăn của anh, hai lần anh đòi ra đi (nhưng sau đó lại thôi). Tuy nhiên, với sự góp mặt của Dennis Bergkamp, Wright đã có cơ hội là mộtphần trong cặp tiền đạo vô cùng hiệu quả.

Khi Arsène Wenger đến với Arsenal vào 9/1996, Wright đã gần 33 tuổi. Bất chấp tuổi tác, anh vẫn thường xuyên ghi bàn, và vào ngày 13/9/1997 anh đã vượt qua kỉ lục ghi bàn cho câu lạc bộ của Cliff Bastin bằng ba bàn thắng trong trận gặp Bolton Wanderers (Kỉ lục này vừa bị Thierry Henry vượt qua vào tháng 10/2005). Hai tháng sau đó anh bị một chấn thương dây chằng rất trầm trọng. Chấn thương này đã loại anh ra khỏi cuộc chạy đua dành cú đúp của câu lạc bộ; Wright có tên trong danh sách dự bị ở trận chung kết với Newcastle United nhưng anh không được thi đấu.

Mùa hè năm 1998, Wright chuyển tới West Ham United. Anh chơi 9 tháng cho Hammers nhưng không bao giờ đạt được phong độ đỉnh cao như khi còn chơi cho Arsenal. Anh cũng có những cuộc phiêu lưu ngắn ngủi ở Nottingham Forest, Celtic, và Burnley (nơi anh đã đưa câu lạc bộ thăng hạng Nhất) trước khi giải nghệ năm 2000. Khi ở Burnley anh đã ghi một trong những bàn thắng vĩ đại nhất của mình trong trận gặp Notts County. Thiếu tiền đạo này Burnley đã không thể tiếp tục thăng hạng vào mùa giải sau.

Wright được thi đấu cho tuyển Anh từ khi còn là cầu thủ của Palace , năm 1991, thế nhưng anh lại không được chơi tại Euro 92. Phong độ của Wright ở tuyển Anh chẳng bao giờ có kết quả tốt như khi anh chơi cho Arsenal. Mặc dù anh đã ghi bàn thắng quyết định vào lưới Balan ở vòng loại World Cup 1994, nhưng tuyển Anh của Graham Taylor vẫn không thể vượt qua vòng loại. Wright chỉ là cầu thủ chầu rìa dưới thời Terry Venables, nhưng lại được Glenn Hoddle gọi lại và những bàn thắng của anh đã giúp tuyển Anh vô địch Tournoi de France năm 1997 và vượt qua vòng loại World Cup 1998. Anh không được tham gia vòng chung kết, tệ hơn nữa, một chấn thương trầm trọng ở dây chằng đã loại anh ra khỏi quá trình đoạt cú đúp của câu lạc bộ Arsenal. Wright đã được vinh danh ở English Football Hall of Fame năm 2005 với những đóng góp của anh cho bóng đá Anh.

Sự nghiệp thông tin đại chúng

Từ khi từ giã bóng đá, anh trở nên nổi tiếng ở lĩnh vực thông tin đại chúng, xuất hiện với vai trò bình luận viên trong chương trình Match of the Day. Anh cũng đã thử sức trong vai trò dẫn chương trình, những chương trình trò chuyện của chính mình, Friday Night's All Wright, được bắt đầu năm 1998 khi Wright còn thi đấu. Sau đó anh được dẫn những chương trình lớn như The National Lottery Wright Around the World, Friends Like These, chương trình phát thanh Wright & Bright (với người đồng đội Mark Bright), Guinness World Records và What Kids Really Think. Anh được tiếp quản vai trò tổ trưởng từ David Seaman vào mùa thu năm 2004 trong chương trình trò chơi của đài BBC là They Think It's All Over.

Anh đang là bình luận viên của đài BBC trong chương trình Match of the Day trong đó có cả 2006 Fifa World Cup Coverage.

Năm 2006 Ian Wright xuất hiện trong chương trình Friday Night Project của Channel 4, chương trình của những người nổi tiếng trong cả đêm.

Wright còn là người tài trợ cho chương trình African-Caribbean Leukaemia Trust. Anh đã được trao giải thưởng MBE năm 2000 vì những đóng góp cho bóng đá.

Wright có 5 đứa con, 2 trong số đó là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp; đầu tiên là Shaun Wright-Phillips đang chơi cho Chelsea và là tuyển thủ Anh, trong khi đó Bradley Wright-Phillips hiện đang chơi cho Southampton. Người con út mới 19 tuổi, Brett Wright đang phấn đấu trong đội hình 2 của Reading FC.

Ian là cổ động viên nhiệt thành của Millwall - câu lạc bộ đầu tiên của anh ở địa phương. Thần tượng của anh là Barry Kitchener, Dave Mehmet và John Seasman.

Danh hiệu

Cá nhân
Tước hiệu Hiệp sĩ (MBE) (2002)
Vinh danh ở English Football Hall of Fame (2005)

Crystal Palace
English Second Division (cũ) playoffs winner (1988/89)
Á quân FA Cup (1990)
Vô địch ZDS Cup (1991)
Chiếc giày vàng (đứng đầu danh sách ghi bàn English First Division Championship – Giải hạng nhất Anh (cũ) (1991-92)
Đứng đầu danh sách ghi bàn cho Crystal Palace sau chiến tranh với 117 bàn. Anh đứng thứ 3 trong lịch sử.

Arsenal
Chiếc giày vàng (cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất English First Division Championship (cũ) (1991-92)
Vô địch FA Cup (1993, 1998)
Vô địch Winners' Cup (1994). Á quân (1995)
Vô địch League Cup (1993)
Vô địch FA Premiership (1997-98)

Wright là chân sút đứng thứ 2 trong lịch sử Arsenal, với 185 bàn thắng trong 288 trận đã đấu; anh đứng đầu kỉ lục ghi bàn từ 13/9/1997 cho tới 18/10/ 2005, khi bị Thierry Henry vượt qua.

Tại đội tuyển Anh
33 lần khoác áo, 9 bàn thắng.
Trận ra mắt: 6/2/1991 gặp Cameroon tại sân Wembley.
Trận cuối cùng: 18/11/1998 gặp Cộng hoà Czech tại sân Wembl

henry_henry
08-03-2008, 12:16 PM
Lee Dixon - Thành viên của bộ tứ huyền thoại


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/_38124682_srdixon150.jpg

Tên đầy đủ: Lee Michael Dixon
Ngày sinh: 17/03/1964
Nơi sinh: Manchester, Anh
Vị trí: hậu vệ

Đội trẻ: Burnley

Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1982-1984 Burnley 4 (0)
1984-1985 Chester City 57 (1)
1985-1986 Bury 45 (5)
1986-1988 Stoke City 71 (5)
1988-2002 Arsenal 458 (24)

Tuyển quốc gia**
1990-1998 Anh 22 (1)

* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước tính đến ngày
27/08/2006.
** Số trận và bàn thắng ghi đươc cho tuyển quốc gia tính đến ngày
27/08/2006.

Lee Michael Dixon (sinh ngày 17/3/ 1964 tại Manchester, Anh) là một thành viên của hàng phòng ngự lừng lẫy của Arsenal trong những năm 90 và về sau.

Lee Dixon sinh trưởng tại Manchester và là cổ động viên Manchester City. Dixon đến với bóng đá đỉnh cao khá muộn - anh đã chơi cho Burnley (nơi anh đá ở đội 2), Chester City, Bury và Stoke City trước khi được huấn luyện viên của Arsenal ông George Graham đưa về vào 1/1988.

Arsenal tìm người thay thế cho hậu vệ người Anh Viv Anderson, người đã bị bán sang Manchester United, thế là Dixon được đưa lên đội 1 ở Highbury. Với hậu vệ kì cựu Kenny Sansom ở bên trái, hậu vệ trái Nigel Winterburn đã thi đấu rất thành công ở vị trí hậu vệ phải đầy lạ lẫm, Dixon đã có trận ra mắt khi gặp Luton Town vào 2/1988 và chơi tổng cộng 6 trận trước khi mùa bóng kết thúc. Trong mùa hè, Sansom rời Arsenal và Winterburn được trả về vị trí, Dixon được mang áo số 2, ở vị trí mà anh đã chơi rất tốt trong hơn 10 năm.

Khi lối chơi phòng ngự không còn làm vừa mắt khán giả, những cái đầu lọc lõi đã chuyển lối chơi Arsenal thành 4 hậu vệ, theo cách họ đã chơi ở những năm 90. Dixon và Winterburn chơi tại hai cánh, trong khi đôi trưởng Tony Adams và trung vệ kì cựu David O'Leary trấn giữ ở giữa. Năm 1989 họ đón nhận Steve Bould, người cũng như Dixon, đã được Graham đưa về từ Stoke City. Thế là 5 hậu vệ thường xuyên chơi tại các vị trí khác nhau của hàng phòng ngự, (hơn cả 4 hậu vệ truyền thống) là sự thay đổi quan trọng của Arsenal khi họ đoạt chức vô địch quốc gia năm 1989, danh hiệu đầu tiên từ sau cú đúp năm 1971, khi mà Graham vẫn còn là cầu thủ.

Dixon là chuyên gia cướp bóng bên cánh phải, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng hỗ trợ cầu thủ chạy cánh David Rocastle và kỹ năng tấn công của anh rất có tiếng ngay cả khi nhiệm vụ chính của anh là phòng ngự (và ưu thế chính bên cánh). Anh cũng có một ảnh hưởng mạnh mẽ trong suốt thời kỳ này khi anh là một chuyên gia sút Penalty của câu lạc bộ. Arsenal bị vượt qua tại League championship cho tới ngày cuối cùng của mùa bóng khi họ đối mặt với Liverpool tại Anfield vào tối thứ 6 một ngày cuối tháng 5.

Trận đấu bị hoãn lại và mang lại rất nhiều lợi thế cho Liverpool, đội đã vượt qua nỗi ám ảnh khung khiếp về thảm họa Hillsborough và đoạt FA Cup, giữa Arsenal chỉ còn lại họ và cú đúp nữa. Arsenal đã trải qua rất nhiều các giải đấu bị ngăn chặn bởi Liverpool, cần phải thắng với cách biệt ít nhất là 2 bàn, đó là điểm khác biệt ghê gớm giữa 2 đội. Nếu không chức vô địch là của Liverpool.

Trận đấu được duy trì với tỉ số 1-0 cho đến khi đồng hồ chỉ tới phút 90. Dixon một mình nhận bóng và thấy có cơ hội kết thúc 1 đường tấn công. Nhận thấy tiền đạo cắm Alan M. Smith đã dạt sang cánh phải, Dixon phất một đường bóng dài chuẩn xác đến ngực anh. Những bước chạy của Smith đã lôi kéo hậu vệ Liverpool chạy theo và tiền vệ Michael Thomas của Arsenal chọc ngay vào khe hở đó, nhận cú chuyền bóng hoàn hảo của Smith và bấm bóng qua đầu thủ môn Bruce Grobbelaar. Quá muộn cho Liverpool bắt đầu lại và chức vô địch là của Arsenal, danh hiệu đầu tiên trong bộ sưu tập của Dixon.

Arsenal đã chiến đấu để bảo vệ chức vô địch (không thể tham dự Cup châu Âu bởi lệnh cấm các câu lạc bộ Anh sau thảm họa Heysel) nhưng niềm vui đến với Dixon khi anh có trận ra mắt tuyển Anh vào 4/1990 tại trận đấu trước World Cup gặp Czechoslovakia. Anh đã chơi tốt, nhưng hy vọng được gọi vào tuyển cho giải đấu lớn nhất hành tinh là rất nhỏ nhoi khi anh chỉ là sự lựa chọn thứ 3 sau Gary Stevens và Paul Parker. Chỉ có chấn thương xảy đến cho một trong 2 người mới mở ra cánh cửa cho Dixon tới Italy và điều đó đã không xảy ra.

Sau World Cup, huấn luyện viên mới Graham Taylor ngay lập tức thay thế Stevens và Parker bằng Dixon, người đã ghi 1 bàn tại Wembley trong trận đấu thứ 6 của vòng loại Euro 92 trước Cộng hoà Ireland. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 1-1. Cũng trong mùa bóng này, hàng thủ khét tiếng của Arsenal (bấy giờ David Seaman chơi ngay sau họ) ngày một tiến bộ, với chỉ 1 trận thua trong mùa bóng họ lại đoạt chức vô địch.

Hết năm 1991, Dixon đã chơi 11 trận cho tuyển quốc gia, bao gồm tất cả các trận vòng loại Euro 92. Anh đã lọt vào vòng chung kết tổ chức tại Thuỵ Điển. Khi vòng chung kết diễn ra, Dixon gặp một chấn thương, do đó Stevens được gọi thay thế. Taylor điền tên Dixon thay vì Stevens trong danh sách dự tuyển, thế nhưng chấn thương đã đến trong một trận đấu. Stevens được gọi lại, cho đến khi hậu vệ của Rangers cũng gặp một chấn thương. Đội Anh phải thi đấu mà không có một hậu vệ cánh phải thực thụ trong đội hình và cũng chẳng vượt qua được vòng bảng.

Sau mùa hè, Dixon trở lại tuyển Anh khi mà hàng phòng ngự của câu lạc bộ đang lỏng lẻo. Với O'Leary sắp giải nghệ, Graham đã bổ sung cho vị trí trung vệ khi đem về Martin Keown từ Everton –đáng chú ý ở chỗ đây chính là cầu thủ được gọi bổ sung cho vị trí hậu vệ phải tại Euro 92 sau khi cả Dixon và Stevens không thể thi đấu.

O'Leary có trận cuối cùng ở vị trí hậu vệ phải của Dixon trong trận chung kết League Cup năm 1993 với Sheffield Wednesday do Dixon không đảm bảo thể lực. Arsenal thắng 2-1. Dixon trở lại trong trận chung kết FA Cup, trận đấu mà Arsenal dành thắng lợi sau khi đá lại, vì trận trước đã kết thúc với tỉ số hòa 1-1. Không may, vào năm 1993 tuyển quốc gia Anh thi đấu không tốt và thất bại tại vòng loại World Cup 1994 tổ chức tại Mĩ.

Trận đấu thứ 21 của Dixon là chiến thắng 7-1 trước San Marino tại vòng loại WC ( một trận đấu thủ tục), cũng là trận cuối cùng dưới sự dẫn dắt của Taylor trước khi Terry Venables lên thay. Cuộc thử nghiệm với các hậu vệ phải chỉ kết thúc khi Gary Neville thi đấu thành công năm 1995, vị trí đó được duy trì đến bây giờ.

Năm 1994, Dixon vô địch cúp Châu Âu để bổ sung vào bộ sưu tập chiến tích một hậu vệ huyền thoại của Arsenal, người luôn luôn dùng những khả năng của mình để ngăn chặn thành công lối chơi lắt léo của các cầu thủ khác. Một lần nữa, lối chơi phòng ngự hiếm khi là 1 cuộc trình diễn thế nhưng cái cách mà Dixon, Winterburn, Bould và Adams nỗ lực chứng tỏ được trình độ của mình trước những Tomas Brolin, Gianfranco Zola và Faustino Asprilla của câu lạc bộ Italia Parma thật là thú vị ngay cả đối với những khán giả tôn thờ chủ nghĩa bóng đá tấn công. Arsenal sớm ghi bàn trong trận chung kết European Cup Winners Cup tại Copenhagen và để hàng phòng ngự nghỉ ngơi, chung cuộc họ thắng 1-0.

Dixon lại mang chiếc áo số 2 khi Arsenal tiếp tục sa sút vào năm 1995 nhưng họ đã vào chung kết Winners Cup một lần nữa. Mặc dù hàng thủ ở Paris đã bị Real Zaragoza chọc thủng, Arsenal nhanh chóng lập lại thế cân bằng và trận đấu phải đá thêm giờ. Hậu vệ hoàn thành nhiệm vụ nhưng lại xảy ra một cú sút rất tức cười tận đường biên gần giữa sân ở phút cuối cùng, thực hiện bởi Nayim (người vừa trở lại sau chấn thương, cựu cầu thủ Spurs) và giằng cup ra khỏi tay các Gunners.

Cuối năm 1996, Arsène Wenger tới Highbury và bắt đầu tiến hành xây dựng lối chơi và chiến thuật của mình cho đội hình Arsenal, thay đổi hoàn toàn nhãn quan và cả chế độ dinh dưỡng. Điều này cho phép hàng thủ của Arsenal có thể kéo dài phong độ đỉnh cao. Ông Wenger ngay lập tức thay đổi cách chơi của các hậu vệ và yêu cầu họ chơi nhanh hơn, hợp lí hơn. Dixon và các đồng đội luôn luôn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với Wenger sau những chỉ bảo của ông để có thể kéo dài sự nghiệp.

Arsenal lại đoạt cú đúp năm 1998 và Dixon đã được trao 1 kỉ niệm chương vì đã tham gia đầy đủ các trận đấu của Arsenal trong mùa giải đó. Anh cũng nhận được món quà bất ngờ khi được gọi lại vào tuyển Anh dưới sự dẫn dắt của Howard Wilkinson, người lên nắm quyền sau sự ra đi của Glenn Hoddle. Dixon đã chơi trong trận thua 2-0 trước đội Pháp ở Wembley, sau đó anh biến mất một cách lặng lẽ khỏi tuyển quốc gia và không bao giờ quay lại. Anh đã khoác áo tuyển quốc gia 22 lần nhưng không được tham gia giải đấu lớn nào.

Dixon chơi tại UEFA Cup năm 2000, giải đấu Arsenal đã lọt vào trận chung kết cũng tại sân vận động Copenhagen nơi họ đã đoạt Winners Cup 6 năm trước đó. Trong trận đấu này họ đã bị đánh bại trong loạt penalty trước Galatasaray của Thổ Nhĩ Kì. Năm tiếp theo Arsenal lọt vào chung kết FA Cup nhưng thất bại trước Liverpool với tỉ số 2-1 tại sân vận động Thiên niên kỉ ở Cardiff - Dixon lúc đó đã 37 tuổi và sắp giải nghệ, anh không thể hoàn thành nhiệm vụ khi để cầu thủ Michael Owen 21 tuổi ghi 1 bàn thắng.

Sau khi giải nghệ

Dixon giải nghệ ngay trong mùa bóng mà Arsenal đoạt được 1 cú đúp khác. Cùng với sự ra đi của Adams, chỉ còn Seaman và Keown tiếp tục phục vụ cho câu lạc bộ kể từ ngày hàng phòng ngự trở thành hàng thủ được kính trọng nhất giải vô địch Anh. Sau khi O'Leary giải nghệ năm 1993, Bould là người tiếp theo của hàng phòng ngự trứ danh ra đi vào năm 1999 và Winterburn cũng rời Highbury một năm sau đó.

Dixon gây ấn tượng sâu sắc ở Arsenal khi chơi 458 trận ở giải trong nước với 25 bàn thắng, hoàn thành bộ sưu tập huy chương khổng lồ.

Sau khi giải nghệ và li dị, anh thử sức trong một số lĩnh vực kinh doanh trong đó có cửa hàng Riverside Brasserie ở Bray, Berkshire, cùng người bạn Heston Blumenthal. Anh tập chơi golf mỗi ngày ở câu lạc bộ Woburn. Anh cũng trở thành bình luận viên đài BBC, và gần đây bắt đầu kiếm được công việc chỉ đạo trong chương trình bóng đá Match of the Day.

henry_henry
08-03-2008, 12:17 PM
Steve Bould - Thành viên của bộ tứ huyền thoại


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/_38124681_srbould150.jpg

Tên đầy đủ: Stephen Andrew Bould
Ngày sinh 16/11/1962
Nơi sinh: Stoke, Trent, Anh
Biệt danh: Bouldy
Vị trí: Trung vệ

Đội trẻ
1978-80 Stoke City
Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1980-1988 Stoke City183 (6)
10-12/1982 Torquay United (cho mượn) 9 (0)
1988-1999 Arsenal 288 (5)
1999-2000 Sunderland 21 (0)

Tuyển quốc gia
1994 Anh B1 (0)
1994 Anh 2 (0)

* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước.

Stephen Andrew Bould (sinh ngày 16/11/1962) là cựu cầu thủ bóng đá người Anh.

Sinh ra tại Stoke, Trent, Bould kí hợp đồng với đội trẻ của câu lạc bộ quê nhà Stoke City khi còn là học sinh trung học vào năm 1978 và được thi đấu chuyên nghiệp từ tháng 11/1980. Anh ra mắt ở vị trí hậu vệ phải trong trận thua 3-2 trên sân Middlesbrough vào tháng 9/1981. Thế nhưng, anh vẫn chưa thể khẳng định mình trong đội hình chính của câu lạc bộ và phải đến Torquay United vào tháng 10/1982 theo bản hợp đồng cho mượn và thi đấu 9 trận dưới quyền của huấn luyện viên Bruce Rioch.

Bould dần dần được chơi ở đội hình chính của Stoke, cố định ở vị trí trung vệ, mặc dù một chấn thương lưng nghiêm trọng vào năm 1987 đe dọa sự nghiệp của anh, nhưng sau vài cuộc phẫu thuật anh đã trở lại. Anh chuyển tới Arsenal vào năm 1988, và trở thành một phần bộ tứ lẫy lừng của Arsenal, cùng với Tony Adams, Nigel Winterburn và người đồng đội ở Stoke là Lee Dixon. Bould đoạt hai danh hiệu vô địch quốc gia ở Giải hạng nhất vào mùa bóng 1988-89 và 1990-91; chấn thương khiến anh không thể tham dự trận chung kết FA Cup và League Cup khi Arsenal vô địch mùa bóng 1992-93.

Sau khi chiến thắng trận chung kết Winners' Cup mùa bóng 1993-94, thành công đã rời bỏ Arsenal cũng như Bould trong vài năm tiếp theo, sự xuất hiện của huấn luyện viên người Pháp Arsène Wenger đã làm xuất hiện một số tin đồn về việc Bould sẽ rời câu lạc bộ (đặc biệt là vào lúc đó anh thường xuyên là sự lựa chọn số 2 sau Martin Keown). Thế nhưng với sự khích lệ nho nhỏ về việc phục hồi phong độ, Bould đã là một thành viên của đội hình giành cú đúp mùa bóng 1997-98 - Bould đã kiến tạo cho Tony Adams một pha cắt bóng thành công để Tony ghi bàn thắng chung cuộc 4-0 cho Arsenal trước Everton, họ đã giành danh hiệu vô địch Premiership sau đó.

Tuổi tác không cho phép Bould tiếp tục chơi bóng đỉnh cao và sau khi kết thúc mùa bóng ở Highbury anh đã chuyển sang thi đấu cho Sunderland vào 7/1999 với mức phí là 500.000 bảng, huấn luyện viên Peter Reid ngay lập tức trao cho anh băng đội trưởng. Bould đã có 2 mùa bóng ở Stadium of Light, nhưng chấn thương đã buộc anh phải giải nghệ vào tháng 9/2000 sau khi chơi 21 trận cho Sunderland. Ngay lập tức anh bắt đầu theo học lớp đào tạo huấn luyện viên của UEFA và tháng 6/2001 anh trở lại Arsenal để làm huấn luyện viên đội trẻ.

Mặc dù là thành viên của hàng phòng ngự lừng danh cuối những năm 80 cho đến giữa những năm 90 của thế kỉ trước, Bould chỉ 2 lần được khoác áo tuyển Anh, kém xa so với người đá cặp là trung vệ Tony Adams.

henry_henry
08-03-2008, 12:19 PM
Martin Keown


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/keown1.jpg

Tên đầy đủ: Martin Raymond Keown
Ngày sinh: 24 – 7 – 1966
Nơi sinh: Oxford
Vị trí: hậu vệ

Keown là mẫu cầu thủ bóng đá truyền thống của Anh trong khi lại là người gốc Ailen và đã gắn bó phần lớn sự nghiệp của mình trong màu áo Arsenal.

Trong vai trò là một hậu vệ, Keown đã chơi cho một vài câu lạc bộ địa phương khi còn nhỏ trước khi gia nhập Arsenal theo một thoả thuận vào năm 1980, cho dù sau đó anh đã đá trận đầu ra mắt trong sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp cho Brighton & Hove Abilon theo hợp đồng cho mượn vào năm 1984. Keown đã quay trở lại Arsenal và chỉ kịp xuất hiện có 22 lần trước khi bị ngài chủ tịch mới của Arsenal khi đó là George Graham bán cho Aston Villa vào năm 1987.

Keown đã chơi cho Aston Villa 3 mùa giải trước khi chuyển tới Everton vào mùa hè 1989. Tại Everton anh đã được lần đầu tiên thi đấu trong màu áo đội tuyển quốc gia trong trận gặp Pháp năm 1992. “Nhờ“ chấn thương của Mark Wright mà Keown đã được triệu tập vào đội tuyển Anh thi đấu tại Euro 92 và đã đá trong cả 3 trận của tuyển Anh.

Tháng 2-1992, Keown đã kí một bản hợp đồng mới để quay trở lại câu lạc bộ cũ Arsenal với giá chuyển nhượng là 2 triệu bảng. Keown phải cạnh tranh vị trí hậu vệ trung tâm thứ hai để đá cặp với Tony Adams. Anh không xuất hiện trong màu áo Arsenal tại cả cúp FA và League Cup năm 1993 theo luật "cup-tied" và chỉ được thay vào trong trận thắng Parma giành cúp C2 một năm sau đó. Tuy nhiên anh đã trở thành một phần không thể thiếu trong cú đúp (gồm chức vô địch giải Ngoại hạng và vô địch cúp FA) năm 98 và 2002 của Arsenal dưới triều đại Arsene Wenger.

Những thành công từ rất sớm của Keown trong màu áo đội tuyển quốc gia khi Graham Taylor còn dẫn dắt không được phát huy khi Terry Venables lên thay thế. Ông đã không trọng dụng anh. Cho đến tháng 3-1997 cơ hội mới lại đến với anh khi Glenn Hoddle làm HLV trưởng đội tuyển Anh. Sau đó Keown tiếp tục được tham dự World Cup 98 nhưng lại không được thi đấu. Phải đến triều đại của Kevin Keegan Keown mới thực sự được trọng dụng (đeo băng đội trưởng trong trận đấu gặp Phần Lan) và được chơi 2 trận tại Euro 2000. Khi Sven-Goran Eriksson trở thành HLV trưởng đội tuyển Anh, tuổi tác trở thành một vấn đề bất lợi cho Keown và cho dù vẫn có tên trong danh sách thi đấu tại World Cup 2002, một lần nữa anh chỉ là cầu thủ dự bị. Vắng mặt một số trong một số trận đấu đầu tiên dưới triều đại Eriksson vì lý do chấn thương nhưng anh đã quay lại đầy ấn tượng trong trận gặp Mexico và sau đó là trận gặp Hi Lạp tại vòng loại World Cup. Anh đá khá cặp khá ăn ý với Rio Ferdinand trong một dàn cầu thủ trẻ tuổi và phải cạnh tranh vị trí với Sol Campbell. Trong 43 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Anh, Keown ghi được 2 bàn thắng.

Keown chơi cho Arsenal cho đến năm 2004 cùng với Arsenal đạt được một chiếc cúp vô địch Ngoại hạng. Sau đó anh rời khỏi Arsenal theo một bản chuyển nhượng tự do. Anh đã ký hợp đồng với Leicester City nhưng lại rời bỏ chỉ sau đó hơn 6 tháng (có tin đồn rằng anh mâu thuẫn với chủ tịch của Leicester – Micky Adams) và tới chơi cho Leading từ tháng 1-2005 cho tới cuối mùa giải và rồi từ giã sự nghiệp cầu thủ.

Keown gia nhập hội đoàn huấn luyện của Newbury vào tháng 8-2005 nhưng hiện nay anh đang tham gia công tác đào tạo tại Arsenal và được HLV cũ của Arsenal – Terry Neill tin dùng, coi là chìa khoá đằng sau thành công của hàng phòng thủ kiểu mới có vẻ còn non kinh nghiệm (được dùng đến như một phương sách để đối phó với vấn đề chấn thương) trong mùa giải 2005-06 mà đáng kể nhất là kỷ lục 919 phút không để thủng lưới tại Champions League.

Tính đến lần thứ 400 khoác áo Arsenal trong chiến thắng giành cúp FA Community Shield trước MU đầu mùa giải 2002-03 Keown đã ghi được tổng cộng 8 bàn thắng cho câu lạc bộ.

Danh hiệu

Vô địch Ngoại hạng: 1998, 2002, 2004
Vô địch cúp FA: 1998, 2002, 2003
Á quân cúp UEFA: 2000
Á quân cúp FA: 2001
43 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Anh

henry_henry
08-03-2008, 12:20 PM
Tony Adams - Người đội trưởng huyền thoại


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/adams02_1024.jpg

Tên đầy đủ: Tony Alexander Adams, Tước hiệu Hiệp sĩ
Sinh ngày: 10/10/1966 - Tại Romford, London
Nick name: Mr.Arsenal

Vị trí khi còn là cầu thủ: Trung vệ
Hiện tại: trợ lí HLV Portsmouth.
Gia đình: Vợ: Poppy, có một con trai tên Atticus năm nay 2 tuổi.
Thành tích:
- Khi còn là cầu thủ:
Từ 1984–2002 chơi cho Arsenal , tham dự 504 trận đấu và ghi được (32) bàn
Từ 1987–2000 cùng Tuyển Anh tham dự 66 trận đấu và ghi được (5) bàn
- Huấn luyện:
2003–2004 Wycombe Wanderers
2006–nay Portsmouth (trợ lý)

Sự nghiệp cầu thủ

Adams sinh ra tại Romford, London. Anh ham mê bóng đá từ khi còn là một cậu bé. Adams gia nhập Arsenal năm 1980 khi còn đang đi học phổ thông. Tại đây anh đã gắn bó cả sự nghiệp cầu thủ 22 năm của mình với câu lạc bộ. Trận đấu đầu tiên Adams được đá chính là trận gặp Sunderland ngày 5 tháng 11 năm 1983 khi anh mới 17 tuổi. Lee Dixon, Nigel Winterburn, Steve Bould và Tony Adams đã hợp thành bộ tứ nổi tiếng ở hàng phòng ngự của Arsenal thời George Graham, người nổi tiếng về kỉ luật và bẫy việt vị.

Ở tuổi 21 Adams trở thành người đội trưởng trẻ tuổi nhất của câu lạc bộ và anh tiếp tục giữ vị trí đó 14 năm liền.

Với một hàng phòng ngự mạnh chơi trong một phạm vi rộng, Arsenal đã dành League Cup mùa giải 1986-87, sau đó họ tiếp tục leo lên những vị trí đầu năm 1988-1989, và tiếp tục thành tích đó ở mùa giải 1990-1991 và 1992-1993.

Adams trở thành người đội trưởng đầu tiên của câu lạc bộ dành được cả hai danh hiệu League Cup và FA Cup. Và năm sau đó anh lại cùng Arsenal có được chiếc Cup C2 Châu Âu.

Cũng trong thời điểm đó anh cũng đặt dấu ấn trong sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình trong trận Anh gặp Tây Ban Nha năm 1987. Đó là trận đấu đầu tiên của Adams cho đội tuyển Quốc gia và sau đó là tham dự Euro 88. Sau khi sớm thành công trong sự nghiệp thi đấu quốc tế Adams gặp phải một chút rắc rối. Anh vắng mặt một cách ngạc nhiên tại World Cup 1990 bởi huấn luyện viên Bobby Robson, sau đó bở lỡ Euro 92 do bị chấn thuơng. Tuy vậy anh vẫn là cầu thủ không thể thiếu ở hàng phòng ngự. Sau khi Gary Lineker tiền đạo đội tuyển Anh giã từ sân cỏ năm 1992, Adams chia sẻ cho David Platt giữ chức đội trưởng không chính thức, mặc dù trước đó Adams đảm nhiệm tất cả ở Euro 96 khiến vị trí của Platt trở nên không chắc chắn. Đội tuyển Anh lọt vào đến vòng bán kết nhưng sau đó lại để thua Đức trên chấm phạt đền.

Tuy vậy, cùng thời điểm đó vợ của Adams rất suy sụp vì chứng nghiện rượu của chồng. Adams thường xuyên la cà trong những quán rượu hay những hộp đêm và đã không ít lần lái xe loạng choạng gây tai nạn. Năm 1990 anh phải vào trại cai nghiện rượu trong ba tháng. Sau Euro 96 anh thừa nhận rằng mình là một người nghiện rượu trở nên tĩnh tâm hơn sau khi được điều trị. Anh tiếp tục theo học và còn tham gia những lớp piano. Anh đã vượt qua được chính bản thân mình và năm 1998 Adams trở lại là chính mình.

Có lẽ cho đến giờ anh vẫn đội ơn Arsene Wenger bởi khi đến với Arsenal năm 1996 ông đã giúp Adams không nhỏ trong việc động viên dìu dắt anh. Ông trở thành người hướng dẫn lối sống mẫu mực cho các cầu thủ. Wenger đã tin tưởng anh và vẫn giao cho anh chức đội trưởng, sự ân cần của người thầy khiến Adams cảm thấy hình ảnh Wenger trở nên đẹp hơn bao giờ hết. Anh hiểu và đã làm được điều anh cần phải làm. Anh đã cùng Arsenal hai lần dành cú đúp Premiership và FA Cup những năm 1997-1998 và 2001-2002. Anh trở thành cầu thủ đội trưởng duy nhất trong lịch sử bóng đá Anh cùng câu lạc bộ dành chức vô địch ở cả 3 thập niên.

Trong khi đó huấn luyện viên Glenn Hoddle của đội tuyển Anh đã trao băng đội trưởng cho Alan Shearer năm 1996. Một quyết định làm cho Adams không khỏi ngạc nhiên và tức giận cũng như để lại cho những cổ động viên đội tuyển Anh những câu hỏi khó hiểu. Adams vẫn tiếp tục thi đấu trong màu áo đội tuyển Quốc gia và cuối cùng cũng được tham giự World Cup 1998. Tại Euro 2000 đội tuyển Anh cũng không thành công. Sau khi Shearer không thi đấu cho đội tuyển quốc gia nữa Adams lại trở về với chiếc băng đội trưởng quen thuộc. Tuy nhiên trong những tháng đó đội tuyển Anh đã để tuột mất cơ hội đến Đức tháng 10/2000. Trận đấu cuối cùng được tổ chức trên sân Wembley trước khi sân vận động đó được xây lại. Trận đấu đó là lần thứ 60 Adams chơi trên mặt sân Wemley, một kỉ lục.

Sau này, dưới thời của HLV Sven-Göran Eriksson vị trí của Adams được thay thế bởi Rio Ferdinand. Adams đã giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình trước khi Eriksson lên nắm quyền HLV.

Sau cú ăn đúp năm 2002 cùng Arsenal, Adams quyết định giã từ sân cỏ. Trận đấu cuối cùng của anh là trận chung kết FA cup 2002. Anh đã chơi 668 trận cho Arsenal (chỉ sau có David O'Leary) và là người đội trưởng thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ.

Chiếc áo số 6 của “Mr Arsenal” đã không được sử dụng tới từ mùa 2001-2002 nhưng tới mùa giải 2005-2006 chiếc áo số 6 đó đã có người kế thừa - Philippe Senderos.

Tháng 5 năm 2002 Adams trở thành cầu thủ Arsenal danh dự tham gia trận đấu với Celtic. Trận đấu có sự góp mặt của các huyền thoại Ian Wright, John Lukic. Và Adams trở lại cùng với bộ tứ huyền thoại Dixon, Winterburn và Bould. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 1-1 với bàn thắng của Lee Dixon, trận đấu cuối cùng của anh trong màu áo The Gunners.

Năm 2004 Admas được nhận vào English Football Hall of Fame với sự công nhận tầm ảnh hưởng của anh trong những trận đấu tại Anh.

Sự nghiệp HLV

Sau khi kết thúc một khóa học đào tạo quản lí thể thao tại trường đại học Brunel, Adams trở thành người quản lí chính thức của Wycombe Wanderers năm 2003. Tháng 11 năm 2004 anh từ chức.

Ngày 7/7/2005 Adams nhận lời làm huấn luyện viên đào tạo học viên cho Feyenoord của Hà Lan. Anh đảm nhận một đội trẻ của Feyenoord. Sau đó anh có một thời gian ngắn ngủi làm huấn luyện viên trưởng cho Utrecht vào khoảng 15/1 đến 2/2 năm 2006.

Ngày 28/6/2006 Admas tới Portsmouth với cương vị là trợ lí HLV của đội bóng, vị trí kế nhiệm Kevin Bond.

Những công việc từ thiện

Tháng 9/2000, với những kinh nghiệm về hậu quả của rượu, Adams đã lập ra một phòng khám chuyên khoa trong thể thao, một tổ chức với mục đích từ thiện chuyên cung cấp những phuơng pháp điều trị, những hướng dẫn và sự giúp đỡ những vận động viên thể thao có thể chấm dứt những vấn đề liên quan đến việc cai nghiện rượu, ma túy hay chất kích thích.

henry_henry
08-03-2008, 12:21 PM
Liam Brady - Thế hệ vàng những năm 70


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ars_280_liam_brady.jpg

Tên đầy đủ: Liam Brady
Sinh ngày 13/2/1956 tại Dublin, Ireland

CLB hiện tại Arsenal (Trưởng hệ thống Đào tạo cầu thủ trẻ)

Sự nghiệp cầu thủ

Đội trẻ :St. Kevin's Boys FC

Thi đấu chuyên nghiệp*

1973-1980 Arsenal

1980-1982 Juventus

1982-1984 Sampdoria

1984-1986 Internazionale

1986-1987 Ascoli

1987-1990 West Ham United

Đội tuyển quốc gia Cộng hòa Ireland (1974-1989) đá 72 trận (9 bàn)

Sự nghiệp huấn luyện

1991-1993 Celtic
1993-1995 Brighton & Hove Albion

Những cầu thủ từng chơi cho Arsenal, đa số đều không muốn nhắc tới giải Serie A. Đơn giản vì họ đều thất bại khi thi đấu tại đó như Platt, Bergkamp, Henry, Kanu... Chỉ có duy nhất Brady là thành công trên đất Italia sau thời gian chơi cho Arsenal. Cho tới ngày nay Ireland mới có cầu thủ thứ hai chơi bóng tại Serie A là Robbie Keane.

Brady là của hiếm với bóng đá Ireland nói riêng và của nền bóng đá kiểu Anh nói chung. Ông chơi khá kỹ thuật và có những cú sút chân trái siêu đẳng. Năm 1971, khi mới 15 tuổi, Brady tới Highbury và chỉ một thời gian ngắn sau đó quanh London đã rộ lên cái tin rằng Arsenal đã có trong tay một của hiếm.

Brady có phong thái của một cầu thủ lớn, có tầm nhìn và chơi rất tự tin. Những bước chạy của ông xé nát hàng phòng ngự đối phương để các tiền đạo khác như Malcolm MacDonald, Frank Stapleton hoặc Alan Sunderland lập công. Những bàn thắng của Brady đa phần là ngoạn mục và một trong số đó là bàn thắng vào lưới Tottenham năm 1978. Đó là một cú sút cầu vồng từ ngoài khu cấm địa ấn định tỷ só 5 – 0 cho Arsenal khi Giáng Sinh chỉ còn có 2 ngày nữa. Một món quà Noel tuyệt vời cho các CĐV Arsenal (vì Tottenham là đối thủ không đội trời chung của Arsenal).

Bạn có thể thắc mắc rằng thành tích 43 bàn thắng trong 227 trận cho Arsenal sau 7 mùa liên tiếp của Brady không có gì ghê gớm cả. Nhưng những bàn thắng của Brady đều rất quan trọng, hơn nữa ông là mẫu cầu thủ kiến tạo hơn là săn bàn. Trong trận chung kết Cúp FA năm 1979 với M.U, sau khi bị dẫn trước 2 bàn Brady đã dốc bóng bên cánh trái chuyền cho Alan Sunderland ghi bàn, tạo điều kiện cho Arsenal lật ngược thế cờ thắng 3 – 2. Sau năm đó Brady được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải.

Brady chơi trận đầu tiên cho Arsenal vào ngày 6/10/1973 (gặp Birmingham) và trận cuối cùng 7 năm sau (trong trận gặp Middlesbrough). Tháng 8/1980, Brady lên đường sang Italia chơi cho Juventus với giá chuyển nhượng 500.000 bảng (một số tiền khá lớn thời đó, khi kỷ lục chuyển nhượng cũng chỉ 1 triệu bảng). Cùng Juventus ông đã đoạt 2 chức vô địch Serie A năm 1981 và 1982. Những năm sau Brady còn chơi cho các CLB Sampdoria, Inter Milan và Ascoli trước khi trở về Anh tháng 3/1987 để chơi cho Westham.

Sau khi treo giày, Brady trở thành HLV của Celtic và CLB hạng hai Brighton. Hiện nay, ông đang dẫn dắt lứa cầu thủ trẻ của Arsenal và đoạt được nhiều danh hiệu quan trọng.

henry_henry
08-03-2008, 12:23 PM
Charlie George -Thế hệ vàng những năm 70


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ars_076_charlie_george.jpg

Sinh ngày 10/10/1950 tại Anh
Chơi tại Arsenal từ mùa giải 1966/67 đến 1974/75

Người hâm mộ luôn có thể rộng lòng với những cầu thủ xuất sắc nhưng bất kham trên sân cỏ. Charlie George là một ví dụ. Tài năng kiệt xuất đi liền với sự nghênh ngang đầy thách thức, người biến những giấc mơ trở thành hiện thực và luôn khắc sâu hình ảnh Arsenal trong tim.

Ngay từ khi còn nhỏ Charlie George đã nhiều lần đến sân Highbury để xem các Pháo thủ thi đấu. Ông say mê các trận đấu của Arsenal và luôn mong muốn có ngày trở thành cầu thủ ngôi sao. “Born to be the King of Highbury” (Sinh ra để làm vua trên sân Highbury), đó là sự ngưỡng mộ mà các cổ động viên Arsenal dành cho Charlie George.

George là duy nhất. Không điều gì có thể khiến ông sợ hãi. “Tôi không phải là người yếu đuối. Tôi không bao giờ cảm thấy lạc lõng và có thể hòa nhập rất nhanh với mọi người. Khi còn nhỏ, tôi thường chơi bóng với các anh lớn hơn, điều đó khiến tôi tự tin và chấp nhận mọi thách thức. Tôi luôn có niềm tin vào bản thân, sẽ không có điều gì mà tôi không làm được với trái bóng. Đó là phương châm sống của tôi!”

Frank McLintock, thủ quân của Arsenal mùa giải 70-71 nhớ lại: “Nếu George không ưa người nào, anh ta sẽ nói thẳng ra điều đó. Không bao giờ đánh mất vẻ nghênh ngang và rất thẳng thắn, trực tính, điều đó khiến George trở thành một cầu thủ đặc biệt”.

Đồng đội có thể bỏ qua cho Charlie George bởi trên sân cỏ ông luôn chứng tỏ giá trị phi thường của mình. Thi đấu với thái độ khá hờ hững nhưng với cặp mắt tinh tường, những bước chạy nước rút thần sầu, ông nhanh chóng bắt đối phương phải trả giá bằng những pha kết thúc lạnh lùng. Charlie George có điệu bộ nhàn nhã, những cú bắt vô lê chính xác và rất mạnh cộng với kĩ thuật cá nhân hoàn hảo. Don Howe, huấn luyện viên phó của Arsenal khi đó nói: “Ngày nay chúng ta thán phục Zola, Cantona, Bergkamp... nhưng 30 năm trước, Charlie George tuyệt vời không kém. Anh ấy là một tay săn bàn bẩm sinh đồng thời là cầu nối quan trọng giữa hàng công và tuyến phòng thủ.”

Tôi có thể chơi được ở nhiều vị trí – George nói – Đó không phải là vấn đề. Với tôi đá bóng chỉ là một trò chơi. Hãy đưa tôi quả bóng và tôi sẽ làm bất cứ điều gì bạn muốn, tại bất cứ nơi nào.”

henry_henry
08-03-2008, 12:24 PM
Pat Rice - Thế hệ vàng những năm 70


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ars_212_pat_rice.jpg

Tên đầy đủ: Patrick James Rice
Ngày sinh: 17/3/1949
Nơi sinh: Belfast, Bắc Ireland
Cương vị hiện tại: Trợ lí huấn luyện viên

Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1964-80 Arsenal 528 (?)
1980-84 Watford 137 (?)

Tuyển quốc gia
1968-79 Bắc Ireland 49 (?)

Sự nghiệp huấn luyện
1984-96 Arsenal (huấn luyện viên tuyển trẻ)
9/1996 Arsenal (huấn luyện viên tạm quyền)
1996-nay Arsenal (trợ lí huấn luyện viên)

* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước.

Patrick James Rice (sinh ngày 17/3/1949 tại Belfast) là cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Bắc Ireland. Ông đang là trợ lí huấn luyện viên ở Arsenal.

Pat Rice đã dành hầu hết sự nghiệp đá bóng của mình ở Arsenal. Mặc dù sinh ra tại Belfast, ông lại lớn lên ở London và gia nhập đội trẻ Gunners vào năm 1964. Ông được ra mắt câu lạc bộ ở League Cup trong trận đấu với Burnley vào ngày 5/12/1967. Chơi hậu vệ phải, ông là một cầu thủ đầy nhiệt huyết tại câu lạc bộ trong những năm 70 của thế kỉ trước, và sau đó trở thành đội trưởng câu lạc bộ. Rice đoạt Inter-Cities Fairs Cup năm 1970 và cú đúp năm 1971 với chức vô địch quốc gia và FA Cup; tổng cộng ông đã tham dự 5 trận chung kết FA Cup nhưng chỉ dành 2 chiến thắng (1971 và 1979).

Rice đã chơi tổng cộng 528 trận cho the Gunners trước khi chuyển sang Watford năm 1980. Ông cũng đã chơi 137 trận cho the Hornets, đưa câu lạc bộ thăng hạng First Division và trở thành đội trưởng trước khi giải nghệ vào năm 1984. Rice đã có 49 trận khoác áo tuyển quốc gia Bắc Ireland từ năm 1968 tới năm 1979.

Rice trở lại Arsenal vào năm 1984 để làm huấn luyện viên đội trẻ, công việc mà ông đã làm trong suốt 12 năm sau đó, vô địch FA Cup giành cho đội trẻ hai lần vào năm 1988 và 1994. Tháng 9/1996 Rice được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền sau sự ra đi của Stewart Houston (người là huấn luyện viên tạm quyền sau khi Bruce Rioch bị sa thải). Ông đã chỉ đạo 3 trận ở FA Premier League (Arsenal toàn thắng) và một thất bại 3-2 ở UEFA Cup trên sân của Borussia Mönchengladbach. Sau khi Arsène Wenger trở thành huấn luyện viên vào cuối tháng đó, Rice trở thành trợ lí của Wenger, và trở thành chìa khóa cho thành công của câu lạc bộ trong những năm 90 của thế kỉ trước và những năm đầu thế kỉ 21, trong đó bao gồm cú đúp mùa bóng 1997-98 và 2001-02. Ông nắm giữ sự khác biệt (cùng với Bob Wilson) trong thành công của câu lạc bộ, ở cương vị cầu thủ lẫn huấn luyện viên, trong cả 3 cú đúp của Arsenal.

henry_henry
08-03-2008, 12:29 PM
Frank McLintock - Thế hệ vàng những năm 70


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ars_113_frank_mclintock.jpg

Frank McLintock, Tước hiệu Hiệp sĩ (Sinh ngày 28/12/1939) là cựu cầu thủ bóng đá người Scotland.

Sinh ra tại Glasgow và lớn lên tại Gorbals, McLintock bắt đầu sự nghiệp ở vị trí tiền vệ tại Leicester City, ông có trận ra mắt năm 1959. Ông đã có 7 mùa bóng tại sân Filbert Street, lọt vào chung kết FA Cup 2 lần (1961 và 1963) và một chung kết League Cup (1964), nhưng đó là một chuỗi thất bại trong cả 3 cơ hội. Ông kí hợp đồng với Arsenal vào tháng 10/1964 và được đưa lên đội một.

McLintock dành cả 9 mùa bóng sau đó cho Gunners, chuyển từ vị trí tiền vệ về đá trung vệ. Ông được đeo băng đội trưởng Arsenal từ năm 1967. Ông cũng tham gia 2 trận chung kết League Cup nữa (lại thua cả hai trận). Vỡ mộng, ông yêu cầu được chuyển nhượng vào năm 1969. Ông được huấn luyện viên Bertie Mee thuyết phục ở lại, và sự thay đổi từ con tim đó đã mang lại phần thưởng xứng đáng, đội trưởng McLintock của Arsenal đã đoạt được Inter-Cities Fairs Cup năm 1970 và sau đó đã đoạt cú đúp đầu tiên năm 1971 (Vô địch quốc gia và FA Cup); cũng năm đó ông đã được trao danh hiệu Football Writers' Association Footballer of the Year. ( Giải cầu thủ của năm của hiệp hội các cây bút viết về bóng đá).

McLintock dẫn dắt Arsenal tới trận chung kết tại Wembley lần thứ 6 vào năm 1972 (trận đó, họ đã thua Leeds), và vị trí á quân tại Giải hạng nhất (cũ) năm tiếp theo, trước khi bị đưa sang câu lạc bộ QPR vào tháng 6/1973. Ông đã có 4 mùa bóng cùng the Hoops, và góp phần đưa đội bóng đi dự UEFA Cup sau khi đứng sau Liverpool vào năm 1976. Ông giải nghệ năm 1977. Tổng cộng, ông đã chơi hơn 700 trận, trong đó có 403 trận cho Arsenal, ông cũng có 9 lần khoác áo Scotland. Ông đã được phong tước Hiệp sĩ vào năm 1972.

Sau khi giải nghệ, ông không mấy thành công trong sự nghiệp huấn luyện ở câu lạc bộ cũ Leicester, và sau đó là ở Brentford, cuối cùng là huấn luyện viên của Millwall, giúp câu lạc bộ lên Division One (giải đấu cũ). Ông cũng có thêm thành công trong sự nghiệp ở vai trò dẫn chương trình nấu ăn, bình luận viên cho đài BBC Radio, và gần đây nhất là cho Sky Sports.

(:| (:| (:|

henry_henry
08-03-2008, 12:30 PM
Jon Sammels - Thế hệ vàng những năm 70


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ars_140_jon_sammels.jpg

Sinh ngày 23/7/1945 tại Anh
Chơi tại Arsenal từ mùa giải 1962/63 đến 1974/75

Jon Sammels là mẫu cầu thủ tận tụy và có phần trầm lặng, tuy nhiên ông rất được các cổ động viên yêu quý. Ngay trong trận đấu đầu tiên cho Arsenal, ông đã ghi bàn vào lưới Blackpool. Một sự khởi đầu tuyệt vời, người ta nhận thấy ngay ông sẽ là người kế tục George Eastham, đảm nhiệm vai trò dẫn dắt trận đấu. Có kĩ thuật, khéo léo, thuận cả hai chân với nhãn quan chiến thuật rất tốt, ông đã thỏa mãn sự kì vọng của các cổ động viên.

Jon Sammels góp công lớn vào chiến thắng đầu tiên của Arsenal ở đấu trường châu Âu vào năm 1970 với những bàn thắng quan trọng. Tuy nhiên trong mùa bóng lịch sử 1970-1971, ông gặp phải chấn thương và phải ngồi ngoài phần lớn thời gian. George đảm nhiệm vị trí của ông. Nếu phải so sánh hai người thì George uyển chuyển hơn, không chiến tốt hơn nhưng bù lại Jon năng nổ hơn và cũng không kém phần tinh tế. Mùa giải 71-72 ông chuyển sang đá cho Leicester City và kết thúc sự nghiệp ở đây.

henry_henry
08-03-2008, 12:31 PM
George Armstrong - Thế hệ vàng những năm 70


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ars_213_george_armstrong.jpg

George "Geordie" Armstrong (9/8/1944 – 1/11/2000) là cố cầu thủ và huấn luyện bóng đá người Anh, gắn bó phần lớn sự nghiệp với Arsenal.

Sinh ra tại Hebburn, County Durham, Armstrong từng là một thợ điện trong lúc vấn tham gia chơi bóng, trước khi gia nhập đội trẻ Arsenal vào tháng 8/1961. Thuở ban đầu ông là một tiền đạo nhưng sau đó được cố định ở cánh. Ông có trận ra mắt không lâu sau khi gia nhập câu lạc bộ ở tuổi 17, trong trận gặp Blackpool vào 24/2/1962 (Arsenal đã thắng 1-0). Mặc dù bắt đầu trong vai trò học hỏi Johnny MacLeod và Alan Skirton, nhưng đến mùa giải 1963-64, ông đã trở thành cầu thủ chính thức. Mùa bóng 1964-65 ông chỉ bỏ lỡ có 2 trận.

Trong sự nghiệp lâu dài với Gunners, Armstrong đã trở thành một trong những tượng đài lớn nhất, người được nhắc đến với những phẩm chất và sự chính xác trong những pha đột biên và đá phạt góc, và là một cầu thủ chạy cánh không biết mệt mỏi. Đầu tiên ông chơi bên cánh trái, nhưng lại tỏ ra đặc biệt hiệu quả ở bên phải. Với sự trưởng thành của mình, ông trở thành một trong vài cầu thủ dưới kỉ nguyên Billy Wright (cùng với Jon Sammels và Peter Storey) trở thành một phần quan trọng trong thành công của Wright cũng như người kế nhiệm Bertie Mee ở Arsenal, kết thúc một thời kì dài khát danh hiệu.

Sau khi không thành công trong các trận chung kết League Cup mùa bóng 1967-68 và 1968-69, Armstrong đã giúp Gunners vô địch Inter-Cities Fairs Cup mùa bóng 1969-70 và cú đúp vô địch quốc gia - FA Cup năm 1970-71. Armstrong đã trực tiếp góp công trong cú đúp của đội năm đó, chuyền bóng cho Ray Kennedy đánh đầu ghi bàn trong trận gặp Tottenham Hotspur, sau trận đấu đó Arsenal đã giành chức vô địch quốc gia. Ông được bầu là Player of the Year của Arsenal trong năm 1970.

Armstrong vẫn ở lại câu lạc bộ trong những năm 70, khi Arsenal thất bại trong tất cả các mặt trận sau cú đúp của họ. Ông chơi ít nhất 30 mỗi mùa trong cả thập kỉ. Ngoài ra, sau khi bị gạt ra bởi người kế nhiệm cho, Terry Neill, ông chuyển đến Leicester City trong mùa hè năm 1977 với giá 15.000 bảng. Ông chỉ chơi 14 trận ở League trong mùa bóng duy nhất cho Foxes và kết thúc sự nghiệp với Stockport County trước khi giải nghệ vào năm 1979.

Dành tới 15 mùa bóng chơi cho Arsenal, nhiều nhất trong lớp cầu thủ lúc đó, Armstrong ở thời điểm đó đã lập kỉ lục câu lạc bộ về số trận đã đấu - với 621 trận cho đội một, bao gồm đúng 500 trận ở giải vô địch quốc gia. Kỉ lục của ông sau đó đã bị phá bởi David O'Leary và Tony Adams. Ông cũng từng ghi được 68 bàn thắng cho Arsenal. Điều đáng ngạc nhiên với một cầu thủ đẳng cấp cao như thế, ông chưa bao giờ được khoác áo tuyển Anh, mặc dù đã thi đấu ở đội trẻ và đội U21 nước Anh; cũng bởi vì chiến thuật của huấn luyện viên tuyển Anh Sir Alf Ramsey là không sử dụng cầu thủ chạy cánh.

Sau khi từ giã sự nghiệp, Armstrong chuyển sang công tác huấn luyện và làm việc ở nhiều câu lạc bộ khác nhau, bao gồm Fulham, Aston Villa, Middlesbrough và QPR cũng như Narvik của Nauy. Năm 1990 ông trở lại Arsenal để huấn luyện đội hai, công việc mà ông đã làm trong phần đời còn lại, mặc dù rất nhiều huấn luyện viên đã phải ra đi đột ngột. Vào ngày 31/10/ 2000, Armstrong đã gục xuống sau một cơn xuất huyết não trong khi đang hướng dẫn tập luyện ở câu lạc bộ. Ông qua đời trong bệnh viện vào sáng sớm hôm sau.

henry_henry
08-03-2008, 12:33 PM
Ted Drake - Tay săn bàn bẩm sinh


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ted%20drake.jpg

Tên đầy đủ: Edward Joseph Drake
Ngày sinh: 16/8/1912 tại Southampton, Anh
Ngày mất: 30/5/1995

Thi đấu chuyên nghiệp
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1931-34 Southampton 72 (48)
1934-45 Arsenal 167 (124)

Tuyển quốc gia Anh 1934-38 5 (6)

Sự nghiệp huấn luyện
1946-47 Hendon
1947-52 Reading
1952-61 Chelsea

Edward Joseph "Ted" Drake (16/8/1912 - 30/5/1995) là cầu thủ cricket, bóng đá và huấn luyện viên người Anh.

Sự nghiệp thi đấu

Sinh ra tại Southampton, Drake bắt đầu thi đấu cho Winchester City trước khi đến với bóng đá chuyên nghiệp và gia nhập Southampton vào năm 1931. Là một trung phong có nhiều bàn thắng, ông lập hattrick cho the Saints ngay trong trận ra mắt và ghi tổng cộng 48 bàn thắng trong 72 trận đã đấu. Ông cũng thi đấu cho đội cricket Hampshire County trong giải cricket của vùng.

Drake chuyển tới Arsenal vào tháng 3/1934 với mức phí chuyển nhượng 6.500 bảng, và ông ghi bàn ngay trong trận ra mắt ở giải vô địch quốc gia trước Wolves. Tuy tham gia quá muộn trong chiến dịch đoạt chức vô địch quốc gia mùa bóng 1933-34, Drake đã dành ngay danh hiệu đó vào mùa giải tiếp theo, sau khi có màn trình diễn đặc sắc, ghi 42 bàn thắng trong 41 trận. Thêm 2 bàn thắng ở FA Cup và Charity Shield, Drake đã ghi tới 44 bàn thắng trong mùa bóng đó, một kỉ lục cho đến tận ngày nay.

Mùa tiếp theo, Drake ghi tới 7 bàn thắng trong trận gặp Aston Villa ngay tại Villa Park vào ngày 14/12/1935, một kỉ lục vẫn đứng vững ở câu lạc bộ. Drake tiếp tục đoạt FA Cup mùa bóng 1935-36 và chức vô địch quốc gia mùa bóng 1937-38. Thế chiến thứ hai đã hạn chế phần nào sự nghiệp của Drake, mặc dù ông đã phục vụ tốt trong Không lực Hoàng gia và được trở lại Arsenal trong thời chiến. Tuy nhiên, sự nghiệp của Drake không thể kéo dài trong thời bình; một chấn thương ở cột sống vào năm 1945 đã buộc ông phải giải nghệ. Với 139 bàn thắng trong 184 trận đấu, ông đứng thứ 5 (cùng với Jimmy Brain) trong danh sách những chân sút xuất sắc trong mọi thời đại của Arsenal, được đưa ra năm 2006. Ông cũng đã 5 lần khoác áo tuyển Anh, ghi 6 bàn và là một trong 7 cầu thủ Arsenal chơi cho đội Anh tại Highbury trong trận gặp Italy vào tháng 11/1934.

Sự nghiệp huấn luyện

Sau khi từ giã nghiệp cầu thủ, Drake huấn luyện Hendon năm 1946, và tiếp đó là Reading từ năm 1947. Ông đưa câu lạc bộ tới vị trí á quân Division Three South mùa bóng 1951-52, lúc đó chỉ đội vô địch mới được thăng hạng. Ông nhận nhiệm vụ dẫn dắt câu lạc bộ ở giải hạng nhất Chelsea vào năm 1952.

Sự có mặt của Drake tại Chelsea đã đem lại một loạt thay đổi, phá hợp đồng với các cầu thủ nghiệp dư, bỏ phòng hòa nhạc. Ông đã loại bỏ những người được nhận lương hàng đầu của câu lạc bộ Chelsea với những biệt danh của họ, và quả quyết rằng người mới cũng được chấp nhận. Từ những chuyển biến ấy ra đời tấm huy hiệu "Lion Rampant Regardant" và biệt danh Blues. Ông giới thiệu cho những chuyên gia tìm kiếm những báo cáo, tin tức, chế độ huấn luyện với bóng, một phương pháp thực nghiệm khá mới mẻ tại Anh lúc bấy giờ. Chính sách trước đây về việc tuyển mộ những cầu thủ tên tuổi tỏ ra kém hiệu quả và bị hủy bỏ; Drake đã sử dụng những hiểu biết của ông từ những giải đấu hạng thấp hơn và sân đấu nghiệp dư để tuyển mộ những người ít tên tuổi nhưng lại hiệu quả, đáng tin cậy hơn như John McNichol, Frank Blunstone, Derek Saunders, Jim Lewis và Peter Sillett.

Trong 3 năm, ở mùa giải 1954-55, Drake đã dẫn dắt Chelsea tới chức vô địch quốc gia duy nhất của họ trong thế kỉ 20. Với việc đó, ông đã trở thành người đầu tiên đoạt chức vô địch quốc gia trên cả cương vị cầu thủ và huấn luyện viên. Thế nhưng, Drake không bao giờ có thể thành công trở lại. Danh hiệu vô địch quốc gia dần dần tan bị lãng quên, do những thay đổi gây ra bởi các cầu thủ của đội trẻ như Jimmy Greaves, Peter Brabrook và Bobby Tambling, những người mà Drake đã đưa ra khỏi sơ đồ chiến thuật của mình. Sau những màn trình diễn thất thường, câu lạc bộ tụt xuống giữa bảng xếp hạng; sau trận thua ở vòng 4 FA Cup trước Crewe Alexandra năm 1961, điều gì phải đến cũng đã đến, Drake đã bị sa thải ngay trong mùa bóng 1961-62 .

Sau khi rời Chelsea, ông trở thành huấn luyện viên đội hai Fulham (nơi con trai ông, Bobby, đang thi đấu), sau đó là giám đốc và chủ tịch của sân Cottagers.

Drake mất năm 1995 ở tuổi 82.

henry_henry
08-03-2008, 12:34 PM
George Graham


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/graham_george1991.jpg

Ngày sinh: 30.11.1944
Nơi sinh : Bargeddie, Lanarkshire, Scotland

Câu lạc chuyên nghiệp

Năm _ CLB _ Số trận (bàn thắng)
1961-64 Aston Villa 8(2)
1964-66 Chelsea 72(35)
1966-72 Arsenal 227(60)
1972-74 MU 43(2)
1974-76 Portsmouth 61(5)
1976-77 Crystal Place 44(2)
Đội tuyển quốc gia
1971-73 Scotland 12 (3)

Sự nghiệp huấn luyện

1983-86 Millwall
1986-95 Arsenal
1996-98 Leeds United
1998-2001 Tottenham Hotspur

Sự nghiệp cầu thủ
Mặc dù là người Scotland nhưng Graham chơi bóng hoàn toàn ở Anh. Ông kí hợp đồng với Aston Villa năm 1961 khi vừa bước sang tuổi 17. Trong 3 mùa ở đây, ông chỉ được ra sân 8 lần, và một trong những lần đó là trận thua Birmingham City trong trận chung kết League cup năm 1963.

Tháng 7 năm 1964, Chelsea bỏ ra 5 nghìn bảng để đem Graham về. Ông đã ghi 35 bàn trong 72 trận cho CLB và đã giành League Cup. Nhưng cùng với một vài cầu thủ khác của Chelsea, ông đã có mâu thuẫn sâu sắc với HLV có tâm tính thất thường Tommy Docherty. Sự việc lên tới đỉnh điểm khi Graham và 7 cầu thủ khác đã không tuân theo lệnh giới nghiêm trước trận đấu vào năm1965 và đã bị Docherty kỉ luật. Sau đó Graham được bán cho Arsenal của huấn luyện viên Bertie Mee với giá 75 nghìn bảng, cộng thêm Tommy Baldwin một năm sau đó. Ông bắt đầu với vị trí trung phong,nhưng sau đó lùi về sau với vai trò hộ công. Graham là một phần quan trọng trong cú đúp mùa giải 1971 (và đã ghi bàn mở tỉ số cho Arsenal trong trận chung kết FA Cup với Liverpool), nhưng việc Alan Ball chuyển đến đã chiếm mất vị trí chính thức của ông và Graham đã chuyển đến MU với giá 120 nghìn bảng vào tháng 12 năm 1972.

Ông thi đấu cho MU trong 2 năm và là đội trưởng khi CLB này bị xuống chơi ở giải hạng Hai. Sau đó, ông có một khoảng thời gian nằm gai nếm mật tại Portsmouth và Crystal Palace trước khi chuyển sang chơi cho CLB California Surf ở Mĩ nhưng chỉ trong một mùa hè ngắn ngủi. Graham đã có 12 lần vinh dự khoác áo đội tuyển Scotland.

Sự nghiệp huấn luyện

Sau khi nghỉ chơi bóng, ông trở thành HLV tại Crystal Palace và sau đó là Queens Park Rangers. Ngày 6 tháng 12 năm 1982 ông được bổ nhiệm chức vụ HLV cho Millwall, lúc này đang xếp cuối bảng ở Division 3. Ông cùng với Millwall trụ hạng thành công và được thăng hạng vào mùa bóng 1985. Sau đó, Arsenal mời ông quay lại giữ chức HLV vào ngày 14 tháng 5 năm 1986. Arsenal đã không có danh hiệu nào kể từ năm 1979, nhưng Graham đã nhanh chóng tạo nên nhiều thay đổi ở CLB, giành 2 League Championships (cúp do Coca Cola tổ chức, danh giá chỉ sau cúp Premier League), 2 League Cup, một FA Cup và European Cup Winners Cup trong 8 năm, làm cho Arsenal trở thành một trong những đội có tên tuổi vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90.

Ông được ca ngợi vì công lao đem về những cầu thủ sáng giá cho Arsenal như David Seaman, Nigel Winterburn, Lee Dixon và Ian Wright. Tuy ông cũng đã có những bản hợp đồng thất bại như Eddie McGoldrick, Glenn Helder và Pal Lydersen. Nổi bật là John Jensen vì dính dáng đến vụ scandal hối lộ, kết quả là việc Graham bị sa thải vào ngày 21 tháng 2 năm 1995. Người ta đã phát hiện ông nhận 425 nghìn bảng Anh tiền hối lộ từ một nhân viên người Na Uy tên Rune Hauge để đem Lydersen và John Jensen về Arsenal. Vì sự việc này, ông bị liên đoàn bóng đá Anh cấm tham gia các hoạt động bóng đá trong vòng 1 năm.

Graham quay trở lại làm huấn luyện viên bóng đá với CLB Leeds United vào tháng 9 năm 1996. Mặc dù Leeds là đội bóng ghi bàn ít nhất tại Premiership (28 bàn), nhưng họ vẫn kết thúc khá vững chắc ở vị trí thứ 13. Mùa 1997-1998 Leeds đạt vị trí thứ 5 tại Premiership và đủ tư cách tham dự cúp UEFA.

Vào tháng 10 năm 1998, sau 2 năm gắn bó với Leeds, Graham được mời làm huấn luyện viên cho Tottenham Hotspur. Chỉ 5 tháng sau khi lên nắm quyền, ông đã đưa CLB vượt qua Leicester City trong trận chung kết League Cup và giành một suất tham dự cúp UEFA. Nhưng Spurs đã không duy trì được phong độ tốt này, và ông đã bị sa thải vào tháng 3 năm 2001, sau khi CLB này rơi vào tay ông chủ mới Daniel Levy. Mặc dù đã đưa CLB đến chiếc cúp đầu tiên sau 8 mùa giải, Graham vẫn không được một số lượng lớn cổ động viên yêu thích vì vai trò quan trọng trước đây của ông tại Arsenal, đối thủ truyền kiếp của Tottenham. Ông chấm dứt sự nghiệp huấn luyện tại đây và tập trung vào công việc làm bình luận viên bóng đá cho kênh thể thao Sky Sports.

Thành tích khi còn là cầu thủ

Aston Villa
* League Cup(về thứ nhì) năm 1963

Chelsea
* League Cup(vô địch) năm 1965

Arsenal
* League Cup(về thứ nhì) năm 1968
* League Cup (về thứ nhì) năm 1969
* Inter-Cities Fairs Cup (vô địch) năm 1970
* League Championship 1971
* FA Cup (vô địch) năm 1971
* FA Cup(về thứ nhì) năm 1972

Thành tích huấn luyện viên

Millwall

Lên từ hạng 3 năm 1985

Arsenal

* League Cup (vô địch) năm 1987
* League Cup (về thứ nhì) năm 1988
* League Championship 1989
* League Championship 1991
* FA Cup (vô địch) năm 1993
* League Cup (vô địch) năm 1993
* European Cup Winners Cup (vô địch) năm 1994

Tottenham Hotspur

* League Cup (vô địch) năm 1999.

AJ_Shigeki
08-03-2008, 01:30 PM
Nói chung là sẽ bắt đầu luôn, không giới thiệu nhiều. Nhìn tên topic đó :)>- Cái tên nói lên tất cả.



===============================

Nigel Clough.

http://www.sporting-heroes.net/files_football/CLOUGH_Nigel_19940115_SF_R.jpg

Tên đầy đủ: Nigel Clough
Thời gian thi đấu tại Liverpool: 1993 - 1995
Vị trí: tiền đạo/tiền vệ
Ngày sinh: 19/3/1966
Nơi sinh: Sunderland
Chuyển đến từ: Nottingham Forest (tháng 7/1993)
Số trận thi đấu: 44
Số bàn thắng ghi được: 9
Danh hiệu: 0

Người ta đặt rất nhiều kì vọng vào sự tỏa sáng của Nigel Clough khi anh chuyển đến Liverpool từ Nottingham Forest mùa hè năm 1993. Bản hợp đồng trị giá 2.275 triệu bảng được huấn luyện viên Quỉ Đỏ lúc đó Graeme Souness mong đợi sẽ là người kế thừa Kenny Dalglish. Con trai của của huấn luyện viên huyền thoại Brian, có 1 khởi đầu trong mơ khi anh ghi cú đúp vào lưới Sheffield Wednesday trên sân nhà Anfield. Những bàn thắng tiếp tục đến sau đó càng làm tăng thêm niềm tin của Souness sẽ biến anh trở thành 1 huyền thoại The Kop. Nhưng thật không may, chuỗi ngày hạnh phúc của Clough đã nhanh chóng kết thúc. Phong độ đi xuống cùng với sự nổi lên của tiền đạo trẻ xuất chúng Robbie Fowler đã buộc Clough phải chấp nhận giữ vai trò tiền vệ lạ lẫm. Tháng 4/1994, Clough ghi cú hattrick nổi tiếng vào lưới Manchester United tại Anfield. Đó cũng là dấu ấn cuối cùng của cựu tuyển thủ Anh trong màu áo đỏ. Sau khi Souness bị sa thải, Clough không còn được trọng dụng. Tháng 1/1996 anh rời Liverpool để gia nhập Manchester City với mức phí chuyển nhương 1.5 triệu bảng.

Bạn có biết? Số lần góp mặt trong đội tuyển Anh của Clough còn nhiều hơn người cha nổi tiếng của mình.

Hiện tại: huấn luyện đội bóng nghiệp dư Burton Albion.

Peter Hooton nói về Nigel Clough: "Nigel Clough đến Liverpool với khá nhiều áp lực. Có lẽ bởi vì cha của anh ấy. Tôi nghĩ anh ấy là 1 tiền vệ thông minh, 1 mẫu cầu thủ mà Liverpool lúc đó rất cần, cầu thủ có thể chia cắt hàng phòng ngự đối phương."

AJ_Shigeki
08-03-2008, 01:32 PM
Geoff Strong
http://cards.littleoak.com.au/196869_fks/132_geoff_strong.JPG

Tên đầy đủ : Geoff Strong
Thời gian thi đấu tại Liverpool :1964 đến 1970
Vị trí : linh hoạt có thể chơi ở nhiều vị trí
Ngày sinh : 19/09/1937
Nơi sinh : Northumberland
Chuyển đến từ : Arsenal (tháng 11 năm 1964 )
Số trận thi đấu :200
Bàn thắng : 32
Danh hiệu : FA Cup (1965) , vô địch giải hạng nhất (1965/66) , Charity Shield (1966)

Sự linh hoạt của Geoff Strong là một tài sản vô giá cho việc tìm kiếm những danh hiệu cho Liverpool trong những năm 60. Chuyển đến từ Arsenal với giá là 40.000 bảng vào tháng 11 năm 1964, đội bóng mà ở đó ông chơi như một tiền đạo lùi, ghi được những bàn thắng ấn tượng , ghi được 69 bàn trong tổng số 125 lần ra sân. Còn ở Liverpool, ông có thể chơi ở nhiều vị trí khác nhau. Trong 6 năm chơi ở Anfield, ông đã chơi ở tất cả các vị trí trừ thủ môn và xuất sắc hơn tất cả mọi người. Cuối mùa giải ông đã thay thế vị trí của Gordon Milne bị chấn thương trong trận chung kết FA năm 1965 và đã một màn trình diễn đáng khâm phục trước cầu thủ của năm Bobby Collins, và ông đã có được chiếc cúp đầu tiên với The Reds. Mùa giải tiếp theo ông đã ghi một trong những bàn thắng đẹp nhất ở Anfield trong trận gặp Celtic ở cup Châu Âu , mặc dù chơi không tốt bởi chấn thương chân nhưng ông vẫn vượt qua Ian Callaghan ở bên cánh phải và đánh đầu qua thủ môn Ronnie Simpson , đưa Liverpool giành thắng lợi ."anh què ghi bàn " Kenneth Wolstenholme đã phát biểu như vậy. Nhưng vì chấn thương nên Geoff phải rời trận đấu. Trong mùa giải 1968/69 ông đã chứng tỏ ông là một hậu vệ trái có năng lực khi thay thế vị trí của Peter Wall. Ông cũng là một trong số các cầu thủ có mặt trong trận tứ kết FA đáng thất vọng ở Watford vào tháng 2 năm 1970, chỉ có 5 cơ hội được tạo ra. Lần cuối cùng ông chơi tại sân nhà Anfield là trận gặp các nhà vô địch sớm khi đó là Everton, chính xác là 1 tháng trước khi mùa giải kết thúc. Sau đo thì ông chuyển đến thi đấu cho Conventry City. Geoff là một cầu thủ được yêu mến, và khi ông có trận trở lại Anfield trong màu áo CLB khác vào năm 1970, ông đã nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ phía những CĐV, như là để tỏ lòng kính trọng trước những gì ông đem đến cho CLB trong suốt 6 năm.



Chuyển tới : Coventry City (mùa hè năm 1970)

Bạn có biết ? Geoff bây giòe có 2 đầu gối được làm bằng thép, đó là kết quả của những chấn thương trong suốt sự nghiệp của ông.

Hiện tại : nghỉ hưu.

John keith nói về Geoff Strong : "Geoff Strong là một cầu thủ đa năng, anh ấy có thể chơi xuất sắc ở mọi vị trí."

AJ_Shigeki
08-03-2008, 01:34 PM
Sam Hardy
http://i51.photobucket.com/albums/f355/myluisgarcia/no94.jpg

Sam Hardy là một trong những thủ môn xuất sắc của Liverpool và ông được bình chọn là người thứ 94 trong số 100 cầu thủ xuất sắc mọi thời của Liverpool

Tên đầy đủ : Sam Hardy
Thời gian thi đấu tại Liverpool : từ 1905 đến 1912
Vị trí : thủ môn
Ngày sinh : 26/08/1883
Nơi sinh : Newbold , Chesterfield
Chuyển đến từ : Chesterfield City (tháng 5 năm 1905 )
Số trận thi đấu : 239
Giữ sạch lưới : 64
Danh hiệu : Vô địch giải hạng nhất (1905/06), Dewar Shield (1906)



Sam Hardy là một trong những thủ môn xuất sắc tại Anfield. Mặc dù đã cản phá 6 bàn thắng của Liverpool khi còn chơi cho đội bóng quê hương là Chesterfield vào tháng1 năm 1905 , nhưng chính điều đó đã gây ấn tượng với người thư lí kiêm quản lí khi ấy của Liverpool là Tom Watson, và 4 tháng sau Sam Hardy đã đến Liverpool với phí chuyển nhượng là 500 bảng. Hardy đã chứng tỏ được mình như là điểm dừng chân tốt nhất ở đất liền, ông có biệt danh là "Safe and Steady Sam " (Sam an toàn và vững chắc ). Ông có màn trình diễn đầu tiên cho The Reds vào tháng 8 năm đó, ông đã thay vị trí của Ted Doig trong trận thắng Nottingham Forest. Những pha cứu bóng được coi như là một trong những tài sản lớn nhất của Hardy, ông đã trình diễn sự giàu có của mình trong suốt mùa giải đầu tiên với CLB và Liverpool đã giành được chức vô địch năm đó. Trong 6 năm tiếp theo ở Anfield , ông có 14 trận thắng trong 21 trận bắt chính cho đội tuyển Anh. Ông được những Liverpudlians hết sức kính trọng nhưng vẫn không tránh khỏi cái ngày đáng buồn ấy ,vào tháng 5 năm 1912 , cái ngày mà ông chấm dứt sự nghiệp ở Anfield. Sau đó ông chuyển sang thi đấu cho Aston Villa, đội bóng mà ở đó ông giành được những danh hiệu lớn hơn .


Chuyển tới : Aston Villa (Tháng 5 năm 1912)

Bạn có biết? Sau khi rời khỏi Anfield, ông đã 2 lần vô đich FA Cup với Aston Villa và một lần vô địch giải hạng nhất với Nottingham Forest.

Hiện tại : Là chủ một khách sạn ở Chesterfield sau khi ông giã từ sự nghiệp bóng đá. Ông mất ở tuổi 83 vào ngày 24 tháng 8 năm 1966.

John Keith nói về Sam Hardy : Anh ấy là một thủ môn vĩ đại, đúng như những gì báo chí nói về anh chàng thủ môn xuất sắc này. Tôi vẫn còn nhớ ở Liverpool họ đã nói là họ sẽ không bao giờ có được một Sam Hardy khác. Anh ấy là một con người đặc biệt, anh ấy đã giành chức vô địch với Liverpool và chơi rất tốt cho đội tuyển Anh ở vị trí thủ môn.

AJ_Shigeki
08-03-2008, 01:36 PM
Harry Chambers
http://www.lfchistory.net/images/profiles/player_chambers.jpg

Tên : Harry Chambers
Thời gian thi đấu tại Liverpool : từ 1915 đến 1928
Vị trí : Tiền đạo
Ngày sinh : 17/11/1896
Nơi sinh : Willinton Quay, Northumberland
Chuyển đến từ : North Shields Athletic (Tháng 4 năm 1915)
Số trận thi đấu : 338
Bàn thắng : 151
Danh hiệu : vô địch giải hạng Nhất ( 1921/22, 1922/23 )



Với dáng đi vòng kiềng và thân hình khoẻ mạnh , Harry Chambers là một trong những cây ghi bàn xuất sắc ở Liverpool. Vẻ ngoài chỉ là đánh lừa , và 'Smlier' ( biệt danh của ông ) là một người rất hoà đồng với đội bóng cũng như với các CĐV . Không thể phủ nhận sự quan trọng của những bàn thắng mà ông ghi trong màu áo đỏ và những cú sút ấy đã đem đến chức vô địch đầu tiên cho CLB ở đầu những năm 20. Là người ở vùng đông bắc, Chambers chuyển đến Liverpool từ North Shields Athletic vào tháng 4 năm 1915 , được một thời gian ngắn thì những trận đấu phải hoãn lại vì sự bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiến tranh kéo dài trong 4 năm và trong thời gian đó ông chơi cho những CLB của Ailen là Belfast Distillery và Glentoran. Khi mà mùa giải lại bắt đầu trở lại , ông đã không mất nhiều thời gian để ghi dấu ấn của mình bằng việc ghi bàn cho Liverpool. Càng ngày ông càng thể hiện bản thân bởi những bởi những bàn thắng mà ông ghi trực tiếp tại Anfield. Những bàn thắng của ông trong mùa giải thứ 5 đã đưa Liverpool có mặt trong top các CLB ghi nhiều bàn thắng nhất , ông đã 8 lần khoác áo đội tuyển Anh. Vào tháng 4 năm 1928 , ở tuổi 32 , cuối cùng thì 'Smiler' cũng phải nói lời tạm biệt với Liverpool. Sau đó thì ông tiếp tục niềm đam mê bóng đá trong 12 năm nữa.


Chuyển tới : West Bromwich Albion (Tháng 4 năm 1928)

Dấu ấn : Lập hatrick trong trận thắng Everton 5-1 vào tháng 9 năm 1928.

Bạn có biết ? Từ giữa tháng 8 năm 1925 đến tháng 9 năm 1927, ông đã thi đấu liên tục mà không nghỉ trận nào.

Hiện tại : Tiếc thay ông đã qua đời ở tuổi 53 vào ngày 29 tháng 6 năm 1949.

John Keith nói về Harry Chambers : " Harry Chambers là một nhân tố quan trọng góp phần đem đến thành công cho Liverpool trong những năm 20 và sẽ mãi mãi có tên trong những cầu thủ vĩ đại đã làm nên lịch sử CLB."

AJ_Shigeki
08-03-2008, 03:00 PM
Donal McKinlay


Cái tên tiếp theo trong ngôi nhà của những huyền thoại là Donal McKinlay, tấm lá chắn của những năm 20 thế kỉ trước.

Tên đầy đủ: Donal McKinlay
Ngày sinh : 25/7/1891
Nơi sinh : Glasgow
Thời gian thi đấu tại Liverpool : 1910-1929
Vị trí: hậu vệ
Số trận thi đấu:433
Số bàn thắng:34
Danh hiệu: vô địch giải hạng nhất(1921/22, 1922/23)



Hậu vệ người Scotland McKinlay là một trong những cầu thủ Liverpool có sự nghiệp thi đấu dài nhất và được nhớ mãi như là một nhân vật đáng kính nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Ông có trận ra mắt ở tuổi 18 năm 1910 và đã chơi cho đến trận đấu cuối cùng 18 năm sau. Mặc dù 4 năm thi đấu nhà nghề phải đánh đổi bắng nghĩa vụ quân sự trong thế chiến thứ nhất. Thất bại trong trận chung kết cúp FA năm 1914 làm cho cầu thủ McKinlay càng có thêm nhiều kinh nghiệm trận mạc để 8 năm sau đó ông dẫn dắt The Reds với tư cách đội trưởng đoạt chức vô địch giải hạng nhất(giải ngoại hạng ngày nay) 2 năm liên tiếp. Một cầu thủ không bao giờ chịu lùi bước, với những pha tắc bóng dũng mãnh. McKinlay là cầu thủ đa năng, ngoài vai trò sở trường là hậu vệ trái ông còn có thể chơi được trung vệ thậm chí là cầu thủ chạy cánh. Một thời gian dài trước khi những pha “chồng cánh” ra đời, ông là cầu thủ tiêu biểu cho nghệ thuật này với những tình huống lên tham gia tấn công ở biên đầy tốc độ và luôn có những pha xâm nhập vòng cấm nguy hiểm. 34 bàn thắng đối với 1 hậu vệ đó là một con số quá ấn tượng, một trong những bàn thắng ngoạn mục nhất của ông ghi được trong trận gặp West Ham tháng 1/1926. Tấm lá chắn vững chắc, cầu thủ sinh ra tại Glasgow còn là chuyên gia trong những tình huống cố định. McKinlay luôn dành được sự tin tưởng của các đồng đội 1 thời gian rất dài ở Anfield. Sự nghiệp lừng lẫy của ông chỉ kết thúc sau ca chấn thương năm 1929.

Dấu ấn: là đội trưởng của câu lạc bộ đoạt chức vô địch giải hạng nhất thập niên 20.

Bạn có biết? Mặc dù chơi hơn 400 trận cho Liverpool nhưng ông chỉ mới 2 lần được chơi trong màu áo đội tuyển quốc gia Scotland.

Hiện tại? làm chủ 1 quán rượu tại Merseyside sau khi treo giày và qua đời ở tuổi 68, tháng 9/1959.

Stephen Done nói về Don McKinlay: "Ông là một hòn đá tảng ở hàng phòng ngự, chơi 434 trận cho câu lạc bộ. Một trong những cầu thủ người Scotland vĩ đại nhất của Liverpool.”

AJ_Shigeki
08-03-2008, 03:04 PM
Mark Walters
http://graphics.fansonly.com/photos/schools/nm/sports/m-baskbl/auto_headshot/281994.jpeg

Cầu thủ tiếp theo được tôn vinh, người đã ghi 2 bàn thắng đáng nhớ mùa giải 1991/92- Mark Walters.

Tên đầy đủ: Mark Walters
Thời gian thi đấu tại Liverpool: 1991 - 1995
Vị trí: cầu thủ chạy cánh
Ngày sinh: 2/6/1964
Nơi sinh: Birmingham
Chuyển đến từ: Rangers (1991)
Số trận thi đấu: 115
Bàn thắng: 19
Danh hiệu: FA Cup (1992), Coca Cola Cup (1995)



Mark Walters đã khắc tên mình vào lịch sử huy hoàng của câu lạc bộ với 2 pha ăn mừng đáng nhớ trước khán đài Kop. Bàn thắng đầu tiên không thể nào quên trong chiến thắng của Liverpool trước Auxerre năm 1992, khi The Reds vượt qua đội bóng Pháp 2-0 ở trận lượt đi để dành thắng lợi chung cuộc với tỉ số 3-2. Một bàn thắng khác cũng được ghi ngay mùa giải đó, bàn thắng quyết định trong trận đấu nổi tiếng với Manchester United.

Được Graeme Souness mang về từ Rangers với giá 1.3 triệu bảng mùa hè trước đó, Walters dành rất nhiều sự kì vọng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh xứng tầm với John Barnes sau khi đã khá thành công tại Ibox. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh mọi chuyện không hề đơn giản với Walters khi ông phải cạnh tranh với 1 cầu thủ trẻ được đánh giá rất cao như Barnes. Nhiệm vụ càng trở nên khó khăn bởi sự nổi lên của một cầu thủ cũng rất trẻ có cái tên - Steve McManaman. Mặc dù kết thúc mùa bóng đầu tiên với chức vô địch FA nhưng ông không được chơi 1 phút nào trong trận chung kết. Mùa giải tiếp theo chứng kiến Walters lập cú hat-trick trên sân nhà trước Coventry City –trận mở màn Premier League – Nhưng, đây lại là mùa giải với nhiều biến động tại Anfield khi Souness bất ngờ từ chức, điều đó cũng đồng nghĩa tương lai của Walters tại Liverpool không còn chắc chắn. Dưới thời huấn luyện viên mới Roy Evans, ông gần như chỉ ngồi ghế dự bị trước khi được cho các câu lạc bộ khác mượn và chính thức trở thành cầu thủ của Stoke City sau đó.

Dù chưa bao giờ thể hiện đúng với những gì được mong đợi nhưng Mark Walters có thể tự hào nhìn lại quảng thời gian chơi bóng tại Anfield với những khoảnh khắc không thể nào quên.

Điều đáng nhớ: Ghi bàn trong trận đấu kịch tính khuôn khổ UEFA Cup gặp Auxerre.

Bạn có biết? Tên đệm của ông là Everton.

Hiện tại? làm công tác huấn luyện tại học viện Aston Villa và là thành viên của đội bóng những huyền thoại Liverpool.

AJ_Shigeki
08-03-2008, 03:06 PM
Alun Evans
http://cards.littleoak.com.au/196869_longacre_minibooks/book2.JPG


Từng là cầu thủ trẻ đắt giá nhất bóng đá Anh Quốc, Alun Evans tiền đạo ngôi sao thập niên 60 xếp ở vị trí 87.

Tên đầy đủ: Alun Evans
Thời gian thi đấu tại Liverpool: 1968-1972
Vị trí:Tiền đạo
Ngày sinh: 30/4/1949
Nơi sinh: Bewdley, Worcestershire
Chuyển đến từ: Wolves(Tháng 9/1968)
Số trận thi đấu: 110
Số bàn thắng: 33
Danh hiệu:0



Trông Evans giống như 1 ngôi sao điện ảnh hơn là 1 cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, tiền đạo có mái tóc vàng rất hợp thời trang này đã trở thành cầu thủ trẻ đắt giá nhất đầu tiên của bóng đá Anh khi Bill Shankly mang ông về Anfield từ Wolves với giá 100,000 bảng tháng 9/1968.

Con trai của 1 cựu cầu thủ bóng đá người xứ Wales, Evans gia nhập Molineux sau khi gây ấn tượng tại các trường dành cho nam sinh như Mid Worcester, Birmingham, không lâu sau trở thành thành viên của đội tuyển U-23 quốc gia.

Mạnh mẽ, kĩ thuật, nhanh nhẹn và có thừa sự can đảm, lần đầu tiên ông gây sự chú ý với Shanks khi còn chơi cho Wolves, cầu thủ trẻ chỉ mới 16 tuổi đã làm cho một hậu vệ được mệnh danh là “hòn đá tảng” như Ron Yeats phải điêu đứng. Evans có bước khởi đầu bùng nổ tại Anfield, ghi bàn ngay trong trận ra mắt thắng Leicester 4-0 và làm cú đúp chỉ 1 tuần sau trong cơn mưa bàn thắng 6-0 vào lưới đội bóng cũ tại Molineux.

Nhưng buồn thay tiềm năng to lớn của ông chưa bao giờ được phát huy hết mức. Hàng loạt những chấn thương đầu gối đã ngăn trở bước tiến của cầu thủ trẻ, lòng tự tin của Evans cũng bị tổn thương nhiều khi khuôn mặt ông dính phải vết sẹo sau vụ lộn xộn ở 1 hộp đêm công cộng. Tuy nhiên, chính ông là tác giả của cú hattrick nổi tiếng vào lưới Bayern Munich trong chiến thắng 3-1 tại Fairs Cup năm 1971, và cũng là người mở tỉ số trong trận bán kết FA Cup gặp Everton tại Old Trafford năm đó.

Mùa giải tiếp theo, với sự xuất hiện của cầu thủ trẻ có tên là Kevin Keegan, Evans quyết định chuyển đến Aston Villa với giá 70,000 bảng sau 110 trận thi đấu và 33 bàn thắng cho Liverpool. Năm 1975, Evans gia nhập Walsall với mức giá 3,000 bảng, một thời gian ngắn chơi bóng ở Mĩ trước khi chuyển đến câu lạc bộ Hellas của Australia và sống từ đó cho đến bây giờ.

Evans đã từng trải qua đủ các nghề từ lái xe phân phối tại chợ cá cho đến thợ sơn và người trang trí sau khi giã từ sự nghiệp bóng đá. Nhưng, có một điều chắc chắn rằng ở Liverpool người ta vẫn luôn nhớ đến ông như 1 tài năng trẻ xuất sắc cuối thập niên 60, đầu thập niên 70.

Điều đáng nhớ: trở thành cầu thủ trẻ đắt giá nhất Anh Quốc

Bạn có biết? Ông đã được báo chí Đức đặt cho biệt danh 'Der Bomber' sau khi lập cú hattrick vào lưới Bayern năm 1971.

Hiện tại? Đang định cư tại Australia.

AJ_Shigeki
08-03-2008, 03:09 PM
Alec Lindsay

http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/42401000/jpg/_42401947_aleclindsay66x66.jpg

Ở vị trí 85 trong top 100 cầu thủ Liverpool là một hậu vệ cánh trái trong những năm 70: Alec Lindsay


Tên đầy đủ : Alec Lindsay
Thời gian thi đấu tại Liverpool : từ 1969 đến 1977
Vị trí : hậu vệ trái
Ngày sinh : 27 tháng 2 năm 1948
Nơi sinh : Bury
Chuyển đến từ: Bury
Số trận thi đấu : 248
Bàn thắng :18
Danh hiệu : vô địch giải hạng Nhất (1972/73), FA CUP (1974), UEFA CUP (1973), Charity Shield (1974)




32 năm trôi qua , những gì còn lại là sự phản đối mãnh liệt của các Liverpudlian là tại sao mà bàn thắng của Alec Lindsay trong trận CK FA 1974 lại không được công nhận. Nhưng sự thật là điều đó không làm ảnh hưởng đến việc ALec Lindsay là hậu vệ trái xuất sắc nhất, ông đã đóng góp rất nhiều cho thành công của CLB đầu những năm 70. Sau khi mà CLB quê hương của ông giành chức vô địch giải hạng Hai thì Bill Shankly đã trả 67.000 bảng để đưa ông về Anfield vào tháng 3 năm 1969. Khi ông mới đến Liverpool ông chơi ở vị trí tiền vệ, nhưng sau một thời gian tập luyện ở đội hình dự bị, Shankly đã quyết định đưa cầu thủ chính thức của đội trẻ đội tuyển Anh khi đó xuống chơi ở vị trí hậu vệ trái, và tài năng của ông đã được chứng tỏ. Chân trái của ông được xem như một trong những gì hiệu quả nhất trong bóng đá và ông chính thức được gọi vào đội tuyển Anh. Trong trận đấu đầu tiên của ông cho Liverpool, ông vào sân thay người từ băng ghế dự bị và đã ghi bàn, trận gặp Ipswich vào tháng 8 năm 1969, đó là một quả Penalty kỹ thuật, điều đó khiến ông được tin cậy. 2 quả Penalty của ông đã đưa Liverpool giành thắng lợi trước Leicester vào tháng 8 năm 1974 và ông trở thành cầu thủ ở Anfield đầu tiên ghi 2 bàn thắng từ chấm phạt đền trong một giải đấu trong vòng 20 năm. Lindsay là người được thi đấu dưới thời của 2 HLV là Shankly và Bob Paisley giành chức vô địch cup UEFA, vô địch giải hạng Nhất năm 1973 và FA cup năm sau đó. Ông chuyển đến Stoke City vào năm 1977 với giá chuyển nhượng là 20.000 bảng, và kết thúc sự nghiệp ở NASL cùng với Oakland.


Chuyển tới : Syoke City (1977)

Bạn có biết ? Ông từng quản lí một trang trại nuôi lợn

Hiện tại : mở một quán rượu ở Leigh

Brian Hall nói về Alec Lindsay : "Alec là một trong những hậu vệ trái xuất sắc nhất mà tôi biết, anh là một trong những cầu thủ có động tác và pha bóng rất đẹp mắt, khi anh ấy sút bóng bằng chân trái thì anh ấy có thể đưa bóng hết 3/4 đường Pitch một cách dễ dàng. "

AJ_Shigeki
08-03-2008, 03:13 PM
Michael Thomas
http://www.coervercoachingnw.com/images/michael_thomas.png

Tên : Michael Thomas
Thời gian thi đấu tại Liverpool : từ năm 1991 đến 1998
Ngày sinh : 24 tháng 8 năm 1967
Nơi sinh : Lambeth
Chuyển đến từ : Arsenal ( tháng 12 năm 1991 )
Số trận thi đấu : 161
Bàn thắng : 12
Danh hiệu : FA Cup ( 1992 )





Michael Thomas ban đầu khi mới đến bị coi là một quyết định sai lầm nhưng sau đó ông đã được tha thứ bởi sự trung thành của ông tại Anfield khi mà ông ghi một trong những bàn thắng đẹp nhất tại cup FA , Vào tháng 5 năm 1989 , bàn thắng cuối cùng của ông ghi được cho Arsenal đã lạnh lùng cướp đi danh hiệu vô địch từ Liverpool . Không CĐV nào của The Reds có mặt trong buổi tối hôm đó quên được khoảnh khắc đấy và lúc đó thì bạn không nghi ngờ gì về việc cá 1 ăn một triệu rằng ông sẽ không bao giờ khoác chiếc áo in biểu tượng Liver Bird nối tiếng . Nhưng chỉ hơn 2 năm sau Thomas đã chính thức chơi dưới sự huấn luyện của Graeme Souness khi ông này bỏ ra 2 triệu bảng để kí hợp đồng với Thomas . Chắc hẳn ai cũng hoài nghi về việc các CĐV sẽ chào đón người đã làm tan vỡ trái tim họ nhưng trung vệ sinh ra ở Anh đã sớm lấy lại niềm tin ở họ . Sự có mặt của ông đựơc xem như là sự thay thế Steve McMahon , Thomas đã gây ấn tựơng ngay khi có màn trình diễn đầu tiên cho The Reds khi ra sân từ băng ghế dự bị trong trận thắng Tottenham 2-1 . Tốc độ và sức mạnh , đỉnh cao của ông là khi ông được đá chính trong trận chung kết FA Cup vào năm 1992 , ông đã ghi bàn thắng quyết định đưa Liverpool giành thắng lợi trước Aston Villa với đội hình còn có 8 người , màn trình diễn của ông tại Wembley khiến mọi người phải ghi nhớ . Ông đã từng có một cú vô lê tuyệt vời giúp Liverpool giành chiến thắng trước Sunderland và sau đó ông đã ấn định tỷ số 2-0 . Một tương lai tươi sáng đang mở ra cho cầu thủ người London nhưng sau đó ông lại gây thất vọng bởi một loạt các chấn thương , trong đó phải kể đến chấn thương ở dây chằng , điều đó đã làm ảnh hưởng đến sự tiến bộ vủa ông . Và vì thế sự nghiệp tại Liverpool của ông bị giậm chân tại chỗ , cuối cùng vào năm 1998 ông rời Anfield và tiếp tục thi đấu dưới sự chỉ đạo của Souness tại Benfica . Những chấn thương có thể đã ngăn ông trở thành cầu thủ vĩ đại của Liverpool nhưng cuối cùng thì ông đã chuộc lỗi được với The Kop .



Chuyển tới : Benfica ( Tháng 8 năm 1998 )

Dấu ấn : Ghi một bàn thắng tuyệt đẹp trong trận chung kết FA Cup năm 1992 .

Hiện tại : làm việc tại một công ty an ninh

Jonh Keith nói về Michael Thomas : " Anh ấy là một cầu thủ xuất sắc nhưng tiếc là lại trở thành nạn nhân của những chấn thương , quá nhiều chấn thương đã ngăn cản việc anh ấy làm nên ảnh hưởng mạnh mẽ tại Livepool , nhưng anh ấy có 2 dấu ấn trong quá khứ và anh ấy sẽ luôn được nhớ đến . "

henry_henry
08-03-2008, 04:45 PM
Bertie Mee - Vinh quang sau 17 năm chờ đợi


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/mee_bertie1971.jpg

Sinh năm 1912
Nơi sinh: Bulwell, Nottinghamshire, Anh quốc
Năm mất: 10/2001

Bertie Mee là một cầu thủ và HLV người Anh nổi tiếng vì là người đầu tiên giúp Arsenal đoạt được cúp đúp vào năm 1971.


Sinh ra ở Bulwell, Nottinghamshire, Mee chơi bóng cho Derby County và Mansfield Town nhưng thật không may, một chấn thương đã kết thúc sự nghiệp ngắn ngủi của ông. Ông gia nhập đội Quân y Hoàng gia và học tập trong 6 năm để trở thành 1 bác sĩ vật lí trị liệu với cấp bậc trung sĩ. Bertie tiếp tục trau dồi học vấn và đến Arsenal năm 1960 với tư cách một nhà vật lí trị liệu.

Năm 1966, phong độ của đội bóng đang hết sức tồi tệ, HLV khi đó là Billy Wright bị sa thải. Báo chí rầm rì về những cái tên ứng cử sáng giá nhưng ban lãnh đạo đã làm tất cả sửng sốt khi quyết định bổ nhiệm Bertie Mee vào cương vị đó. Thậm chí Bertie Mee cũng tỏ ra không tự tin, ông yêu cầu cho ông 12 tháng thử thách, nếu không thành công ông sẽ quay lại làm công việc trị liệu. Cũng phải nói rằng vào lúc đó kiến thức về bóng đá của ông là hết sức hạn chế, những năm tháng ngắn ngủi làm cầu thủ chỉ giúp ông có được những kinh nghiệm ít ỏi về kĩ thuật chơi bóng hơn là về tư duy chiến thuật, do đó ông tuyển Dave Sexton và Don Howe làm trợ lý cho mình.

Nhưng cũng chính vì vậy, chúng ta phải kính phục Bertie Mee về trí tuệ và sự khôn ngoan của ông. Khi ông tiếp quản đội bóng, Arsenal đã có 17 năm trời không biết đến vinh quang. Các cổ động viên đã mất hết kiên nhẫn và Bertie Mee phải chịu một sức ép rất lớn. Nhưng rồi dưới bàn tay của ông, lứa cầu thủ đoạt cúp FA giành cho đội trẻ năm 1966 như Charlie George, John Radford và Ray Kennedy bắt đầu cho thấy một tương lai đầy triển vọng. Arsenal tiến vào cả 2 trận chung kết League Cup năm 1968 và 1969, nhưng đều thất bại trước Leeds United và Swindon Town. Tuy nhiên ngay mùa sau, Mee đã đem về cho Arsenal chiếc cúp châu Âu đầu tiên, cũng là danh hiệu đầu tiên của đội sau 17 năm trời. Đó là cúp Inter-Cities Fairs. Arsenal đã đánh bại Anderlecht với tổng tỉ số 4-3 sau 2 lượt đi và về. Dù đã bị dẫn trước 3-0 ở lượt đi., nhưng các Pháo thủ đã thi đấu một trận xuất sắc trên sân Highbury để lật ngược thế cờ.

Fairs Cup chỉ là màn khởi động cho những kì tích thực sự sắp xảy ra, cú đúp huyền thoại (cúp FA và League Cup) năm 1971. Chức vô địch League Cup Arsenal giành được sau trận thắng đối thủ truyền kiếp Tottenham Hotspur trên sân White Hart Lane trong ngày cuối cùng của mùa giải, chỉ 5 ngày sau Arsenal tiếp tục hạ Liverpool với tỉ số 2-1 trên sân Wembley sau khi hết 2 hiệp phụ, bàn thắng được ghi do công của Charlie George. Bàn thắng này chính thức hoàn tất cú đúp lịch sự dưới thời Bertie Mee.

Bertie Mee là một người có tài tổ chức, một nhà tâm lí tài giỏi và cũng rất coi trọng kỉ luật. Trong đội bóng ông đề ra chế độ thưởng phạt rất rõ ràng, nhờ vậy có thể quản lí tốt các cầu thủ trẻ. Có một câu chuyện kể rằng, trong kì nghỉ hè ở đảo Síp, các cầu thủ bị buộc phải dùng kem chống nắng khi tắm nắng, nếu ai không dùng mà để bị bỏng da sẽ bị phạt 50 bảng!

Thực tế, Bertie Mee chỉ coi mình là người nhỏ bé trong một câu lạc bộ khổng lồ. Ông không thể sánh với HLV huyền thoại Herbert Chapman nhưng điểm chung giữa hai người là phong cách làm việc hiệu quả, mang lại những thành công thiết thực cho câu lạc bộ. Nếu Chapman là người tạo nên một Arsenal hùng mạnh thì Bertie Mee lại là người cứu giúp danh dự câu lạc bộ, đưa đội bóng kiêu hãnh từ bóng tối trở lại hào quang chiến thắng. Trong 10 năm dẫn dắt Arsenal, ông cùng câu lạc bộ có được mùa bóng 1970-1971 tuyệt vời với cú đúp đầy ấn tượng, ngoài ra có tới 6 mùa giải Arsenal xếp thứ nhất hoặc thứ nhì trên bảng xếp hạng.

Đối với nhiều người, kỉ niệm ấn tượng nhất về ông là khi Arsenal đánh bại đối thủ truyền kiếp Tottenham để giành chức vô địch năm 1971. Có lẽ đó là lần duy nhất ông rũ bỏ vẻ lạnh lùng “phớt Ăng lê” để buông thả trong niềm vui chiến thắng. Các cầu thủ nhớ lại, ông đã xé toạc chiếc áo đang mặc, vừa reo hò vừa nhảy múa không ngừng trong phòng thay đồ.

Tuy nhiên. Arsenal của Bertie Mee đã không thể duy trì thành công. Họ để thua Leeds trong trận chung kết League Cup năm 1972, và dần dần tụt xuống giữa bảng xếp hạng một cách khó hiểu. Mee chính thức tuyên bố từ chức HLV của Arsenal vào năm 1976. Sau đó ông về với Watford làm trợ lý cho Graham Taylor năm 1978, và sau này trở thành giám đốc của CLB này.

Mee được trao tặng huân chương OBE năm 1984 vì những cống hiến của ông cho bóng đá. Ông qua đời năm 2001 tại London, thọ 82 tuổi

henry_henry
08-03-2008, 04:47 PM
Tom Whittaker và những năm 30


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/whittaker.jpg

Tên đầy đủ: Thomas James Whittaker
Ngày sinh: 21/7/1898 t ại Aldershot, Hampshire, Anh
Ngày mất: 24/10/1956 t ại London, Anh
Sự nghiệp cầu thủ:
*1919-1925 : Arsenal, thi đấu 70 trận, ghi được 2 bàn thắng

Sự nghiệp huấn luyện:
*1947-1956 : Arsenal

Thomas James Whittaker (MBE) là cầu thủ, huấn luyện viên người Anh, gắn bó hầu hết sự nghiệp với Arsenal

Whittaker sinh tại Aldershot, Hampshire nhưng lớn lên ở Newcastle upon Tyne (được biết với cái tên Newcastle) từ năm lên 3. Ông chơi bóng trong giai đoạn đầu sự nghiệp của mình ở Đông Bắc nước Anh khi đang học tập trở thành kĩ sư thủy quân lục chiến, sau này ông công tác ở chuyên môn này tại công ty Hawthorn & Leslie. Ông gia nhập quân đội Anh vào năm 1917, sau đó chuyển sang Hải quân Hoàng gia Anh và chơi bóng cho quân đoàn Pháo binh Hoàng gia. Sau khi phục vụ tổ quốc trong Thế chiến thứ nhất, Whittaker gia nhập Arsenal vào tháng 9 năm 1919, đầu tiên ông chơi ở vị trí trung phong sau đó thì dạt ra cánh. Ông ra mắt lần đầu tiên là trong trận đấu với West Bromwich Albion vào ngày 6 tháng 5 năm 1920. Từ đó, ông được thi đấu thường xuyên trong đội hình chính thức trong những năm 20, ông đã chơi 70 trận và ghi 2 bàn.

Năm 1925, tại một trận đấu ở Wollongong trong chuyến du đấu của Hiệp hội bóng đá Anh (FA) ở Úc, ông bị vỡ xương bánh chè và buộc phải treo giày.Vì muốn tiếp tục đeo đuổi niềm đam mê với trái bóng, ông tham gia khóa học về vật lí trị liệu và gia nhập đội ngũ các nhân viên quản lý của CLB. Sau đó ông trở thành chỉ đạo viên đầu tiên của Arsenal dưới quyền của huấn luyện viên Herbert Chapman vào năm 1927 (Khi đó ông vẫn còn trẻ hơn nhiều cầu thủ trên đường pitch). Whittaker đóng vai trò quan trọng đối với Chapman trong việc cải tiến cách tập luyện và chế độ điều trị bằng vật lí trị liệu ở câu lạc bộ. Ông là một phần rất quan trọng trong những thành công của câu lạc bộ trong thập niên 30.

Sau cái chết của Chapman năm 1934, Whittaker vẫn tiếp tục phục vụ người kế nhiệm, George Allison, và trở thành thành viên ban huấn luyện tuyển quốc gia Anh. Thế chiến thứ hai diễn ra, Whittaker hoạt động như một dân quân của tổ chức ARP, trước khi trở thành phi công của Không Lực Hoàng Gia và được đứng trong hàng ngũ Phi đoàn trưởng. Vì sự phục vụ của mình, ông được trao tặng danh hiệu Hiệp sĩ Đế chế Anh(MBE)

Kết thúc chiến tranh, Whittaker trở lại với công tác huấn luyện tại Arsenal. Sau khi Allison giải nghệ vào năm 1947, Whittaker trở thành huấn luyện viên mới của câu lạc bộ; dưới sự dẫn dắt của ông, câu lạc bộ đã đoạt chức vô địch quốc gia mùa bóng 1947-1948, 1952-1953 và chiếc cúp FA năm 1949-1950. Thế nhưng, thành công đã không đến với Arsenal trong những năm 50, Whittaker đã không thể đưa được ngôi sao nào đến với câu lạc bộ. Việc phải chịu quá nhiều trách nhiệm đã tác động rất xấu tới Whittaker. Ông qua đời trong một cơn đau tim tại London năm 1956, hưởng thọ 58 tuổi.

henry_henry
08-03-2008, 04:49 PM
George Allison - người kế nhiệm Herbert Chapman


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/g_allison.jpg

Tên đầy đủ: George Allison
Ngày sinh:12/1883
Nơi sinh: Darlington, County Durham, Anh.
Ngày mất: 13/3/1957
Nơi mất: London, Anh.
Huấn luyện viên Arsenal từ 1934 đến 1947.

Sự nghiệp huấn luyện:
*1934-1947 : Arsenal

George Allison là một nhà báo viết về bóng đá, bình luận viên trên đài phát thanh và là một huấn luyện viên.

Sinh ra tại Darlington, Allison bắt đầu viết báo tại quê hương (vùng Đông Bắc nước Anh) trước khi chuyển đến London vào năm 1905. Ông đã hợp tác với Woolwich Arsenal, và trở thành chủ bút viết những chương trình hoạt động, tuyên truyền cho câu lạc bộ. Ông tiếp tục hợp tác với đội sau khi họ chuyển tới Highbury và đổi tên thành Arsenal. Ông trở thành bình luận viên trận chung kết FA đầu tiên được phát thanh trên radio, đó là trận đấu giữa Arsenal và Cardiff City năm 1927.

Lúc đó ông đã là thành viên của hội đồng quản trị câu lạc bộ. Đầu tiên ông làm thư kí, sau đó làm giám đốc quản lí. Sau sự ra đi đột ngột của huấn luyện viên huyền thoại Herbert Chapman vào tháng 1 na9m 1934, ông đã được đề bạt là người kế nhiệm chính thức của Chapman vào mùa hè năm đó.

Sau Chapman và HLV tạm quyền Joe Shaw, ông cùng Arsenal chiến thắng tại League Championship (giải đấu danh giá nhất tại Anh lúc đó) vào 2 mùa liên tiếp (1932-33 và 1933-34). Ông đã biến nó thành 1 hat-trick khi giành danh hiệu thứ 3 liên tục vào mùa 1934-35. Ông cũng giành được cúp FA năm 1935-1936, và tiếp tục là League Cup một lần nữa vào mùa 1937-1938.

Ông đã xuất hiện rất nổi bật trong bộ phim có tên: Highbury, The Arsenal Stadium Mystery (Highbury, sân vận động huyền bí của Arsenal) vào năm 1939. Trong phim, ông đóng vai chính mình. Một trong những câu nói quen thuộc của ông vào lúc giữa hiệp là: "1-0 cho Arsenal, đó là điều mà chúng tôi thích". Câu nói đó đã hình thành xu hướng thắng với tỉ số 1-0 của Arsenal trong nhiều thập kỉ sau đó.

Allison không can thiệp vào vấn đề quản lí như người tiền nhiệm Chapman. Joe Shaw and Tom Whittaker chịu trách nhiệm về vấn đề huấn luyện và kỷ luật của đội, còn Allison tập trung vào các chính sách chuyển nhượng và mối quan hệ của câu lạc bộ với giới truyền thông. Cầu thủ Bernard Joy thuật lại chi tiết: "Ông ấy là người lịch thiệp, thân thiện và tốt bụng, nhưng hơi thiếu tầm nhìn trong việc mua bán cầu thủ cũng như sự hiểu biết về các cầu thủ chuyên nghiệp.” Những đề xuất và đóng góp của Allison đã mang về nhiều danh hiệu cho Arsenal, dù rằng đến cuối thập niên 30, Arsenal đã không còn là đội bóng lững lẫy như họ đã từng là. Allison đã không thể tìm được phương án thay thế những ngôi sao của đội trong nửa đầu thập kỷ, đặc biệt là Alex James.

Thế chiến thứ hai diễn ra, những trận đấu bóng đá của nước Anh bị gián đoạn. Sau khi kết thúc chiến tranh, rất nhiều cầu thủ đã góp công tạo nên thành công cho Arsenal như Cliff Bastin và Ted Drake lần lượt nghỉ hưu. Và Arsenal kết thúc một mùa giải 1946-1947 đáng thất vọng tại vị trí thứ 13. Allison lúc đó đã gần 65 tuổi và đã mệt mỏi với công tác huấn luyện, ông quyết định dừng chân và nghỉ hưu. Sau vài năm mắc bệnh, ông đã qua đời năm 1957, thọ 74 tuổi.

henry_henry
08-03-2008, 04:50 PM
Harry Bradshaw - cùng Arsenal tiến lên hạng Nhất


http://arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/bradshaw.jpg

Tên đầy đủ: Harry Bradshaw
Sinh năm 1854, mất năm 1924
Nơi sinh: Anh quốc
Thời gian làm huấn luyện viên: 1896-1899
Sự nghiệp huấn luyện:
*1896-99 : Burnley
*1899-1904 : Woolwich Arsenal
*1904-09 : Fulham

Harry là nhà cầm quân người Anh, mặc dù bản thân ông chưa từng là cầu thủ chuyên nghiệp,nhưng ông từng được bổ nhiệm làm thư tịch viên của Burnley FC năm 1891 và trở thành chủ tịch 2 năm sau đó. Năm 1896 ông trở thành HLV của đội, và dù cho ngay mùa giải đầu tiên của ông ở Giải hạng Nhất, đội đã bị xuống hạng, xếp cuối bảng và thua trận playoff, nhưng họ đã lên hạng ngay mùa sau, trở lại tốp dẫn đầu và về vị trí thứ 3 (1898-1899), đó là vị trí tốt nhất trong lịch sử câu lạc bộ này.

Mùa hè năm 1899, Harry Bradshaw chuyển về miền Nam đến câu lạc bộ hạng hai Woolwich Arsenal, và cũng giống như đối với Burnley FC, sau một vài mùa giải thất bát ở gần cuối bảng xếp hạng, câu lạc bộ đã kết thúc ở vị trí thứ 2 vào mùa giải 1903-1904 và được thăng lên Giải hạng Nhất. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, câu lạc bộ được chơi lên chơi tại giải cao nhất của bóng đá xứ sở sương mù. Dẫu vậy nhưng ông chưa từng đưa câu lạc bộ lên được đến vị trí cao nhất, vì ông gia nhập giải Southern League (giải bán chuyên nghiệp) cùng với Fulham vào mùa hè năm 1904 và trở thành HLV chuyên nghiệp đầu tiên của câu lạc bộ này. Tại đây ông đã 2 lần đoạt chức vô địch ở giải Southern League và giành quyền lên chơi tại giải hạng hai vào cuối mùa giải 1906-1907. Ngay mùa đầu tiên thăng hạng, Fulham đã giành được thứ hạng cao và cán đích ở vị trí thứ 4, lọt vào bán kết cúp FA năm đó. Tuy nhiên họ không duy trì được vị thế của mình tại mùa giải sau và chỉ xếp ở vị trí ở vị trí thứ 10. Harry hết hợp đồng với Fulham sau mùa giải đó. Ông rời Fulham và trở thành thư kí của giải Southern League, vị trí mà ông nắm giữ cho đến khi nghỉ hưu năm 1921. Ông mất năm 1929.

Con trai ông - Joe Bradshaw, đã chơi bóng cho Woolwich Arsenal dưới thời bố mình và tiếp bước ông để trở thành HLV cho câu lạc bộ Fulham.

henry_henry
08-03-2008, 06:47 PM
Thierry Henry


http://images.businessweek.com/ss/06/06/worldcup_players/image/henry.jpg

Sinh 1977-08-17
Les Ulis - Paris
France
Vị trí Striker - Trung phong
Số áo 14
CLB Cũ

AS Monaco - Juventus
Gia nhập Arsenal 1999-08-03

Đội trẻ

1990-92: F.F.F Academi
1992-93: FC Versailles

Thi đấu chuyên nghiệp

Năm CLB Trận (Số bàn thắng)
1993-98 AS Monaco 105 (20)
1998-99 Juvetus 16 (3)
1999- Arsenal 237 (164)
1997- ĐTQG Pháp 85 (36)

Danh hiệu

Với đội tuyển Pháp:
- FIFA World Cup:
Tham dự: 1998, 2002, 2006
Vô địch: 1998
Á quân: 2006
- Euro:
Vô địch: 2000
Tham dự: 2000, 2004
- Cúp liên lục địa: 2003
Với Monaco:
- Ligue 1: 1996-97
- Siêu cúp nước Pháp: 1997
Với Arsenal:
- FA Premier League: 2001-02, 2003-04
- FA Cup: 2002, 2003, 2005
- FA Community Shield: 2002, 2004
- Cúp C1: á quân 2006
- UEFA Cup: á quân 2000.

Sự nghiệp ban đầu

Henry được đào tạo tại trường đào tạo của Liên đoàn bóng đá Pháp đặt ở Clairefontaine và khi còn bé từng chơi cho CO Les Ulis (1983-1989) sau đó là Palaiseau (1989–1990), Viry-Chõtillon (1990–1992) và FC Versailles (1992–1993). Henry khởi nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp tại AS Monaco và thực sự bắt đầu vào năm 1994 nhờ được HLV của AS Monaco khi đó là Asene Wenger phát hiện khi anh mới 17 tuổi. Henry được Wenger cho đá bên cánh trái thay vì đá vị trí tiền đạo mà anh vẫn đảm nhận vì vị trí tiền đạo đã được thay thế bởi cầu thủ Brazil Sonny Anderson.

Sự nghiệp tại Juventus

Gây được ấn tượng trong thành công của đội Pháp tại France 98, Henry rời Monaco và chuyển tới chơi cho câu lạc bộ Juventus của Italia vào tháng 1-1999 với giá 10,7 triệu bảng. Tại Juventus Henry được yêu cầu đá dạt sang bên cánh và ở một vị trí không phải là sở trường vì vậy anh không có cơ hội thể hiện nhiều và chỉ ghi được có 3 bàn thắng trong 12 trận đá cho Bianconeri.

Sự nghiệp tại Arsenal

Không thành công tại Italia, Henry rời Juvetus đến với Arsenal vào 8-1999 với giá 10,5 triệu bảng và gặp lại người thầy cũ tại Monaco, Wenger. Tại Arsenal, Wenger cho Titi đá lại vị trí sở trường là một tiền đạo. Ban đầu có một số người nghi ngờ rằng anh sẽ bị loại khỏi đấu trường khắc nghiệt của Premier League và sẽ không thể ghi bàn trong 10 trận đấu đầu tiên. Tuy nhiên Titi đã thể hiện một phong cách tuyệt vời, một lối đá đậm chất nghệ thuật nhưng cũng rất hiệu quả ngay từ lần đầu tiên đối diện với khung thành và trở thành một trong số các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Arsenal trong suốt 7 mùa giải gắn bó với CLB.

Trở thành đội trưởng của Arsenal từ năm 2005, Henry đã thay thế xứng đáng cho Vieira. Anh được rất nhiều người coi là cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử Arsenal và vào ngày 18-10-2005 Titi đã trở thành người ghi nhiều bàn thắng nhất trong mọi thời đại của câu lạc bộ. Hai bàn thắng ghi trong trận gặp Sparta Prague đồng nghĩa với việc anh đã phá vỡ kỷ lục 185 bàn thắng của Ian Wright. Ngày 1-2-2006, bàn thắng ghi được trong trận đấu gặp Westham đã nâng tổng số bàn thắng anh ghi được tại giải Ngoại hạng lên con số 151, phá vỡ kỷ lục của Cliff Bastin. Mùa giải 2005-06 cũng chứng kiến bàn thắng thứ 100 của Titi ghi trên thánh địa Highbury - một kỷ lục gần như không thể phá vỡ trong lịch sử câu lạc bộ. Đó là một kỳ tích của giải Ngoại hạng.

Vào 7-5-2006 Henry đã lập một cú hatrick khi gặp Wigan Athletic trong trận đấu cuối cùng trên sân Highbury. Trận đấu của nhiều tâm trạng và cảm xúc ấy kết thúc với tỉ số 3-1 đã giúp Arsenal vượt qua đối thủ cùng thành phố Tottenham Hospur để đảm bảo một suất tại Champions League mùa giải tới. Bàn thắng thứ 3 của Titi - cũng là bàn thắng cuối cùng anh ghi trên sân Highbury là một quả penalty. Sau khi sút phạt thành công, Titi đã quỳ xuống và đặt một nụ hôn lên nền cỏ Highbury - nụ hôn tạm biệt. Đó là khoảnh khắc tuyệt vời...

Tại UEFA Champions League 2005-06 Arsenal đã vượt qua rất nhiều đối thủ sừng sỏ để đi vào tới trận chung kết tại Paris với một kỷ lục: 10 trận liên tiếp bất bại - tổng thời gian giữ sạch lưới lên tới 919 phút.

Một pha tấn công của Titi đã giúp Arsenal giành được chiến thắng 1-0 trước gã khổng lồ Real Madrid trong trận lượt đi vòng đấu loại trực tiếp 1/16 ngay trên thánh địa Bernabeu. Một cú chuyền như đặt cho Farbegas và một bàn thắng, Titi Henry đã đưa Juventus trở thành “nạn nhân” tiếp theo tại tứ kết.

Henry đối đầu với Barcelona trong trận chung kết kịch tính tại Paris 17-5-2006 quê hương anh trong những lời đồn đại về tương lai của anh tại Barcelona. Trận đấu đã mở đầu thật tồi tệ cho Arsenal khi thủ môn Lehmann phạm lỗi với Eto’o và bị một thẻ đỏ trực tiếp đuổi khỏi sân trong sự bàng hoàng của các cầu thủ và các fan Arsenal. Một sai lầm của trọng tài! Tuy nhiên chính trong thời điểm khó khăn ấy các pháo thủ đã biết cách chứng tỏ mình bằng việc vươn lên dẫn trước 1-0 với bàn thắng bằng đầu cực kỳ dũng mãnh của Sol Campbell. Nhưng số phận đã không mỉm cười với Arsenal, Barca lội ngược dòng thành công chỉ trong 15 phút cuối. Henry đã phải chịu những lời chỉ trích gay gắt khi bỏ lỡ nhiều cơ hội, cụ thể là hai lần bị thủ môn của Barca Victor Valdes từ chối bàn thắng.

Trong mùa giải 2005-06 Henry cũng có liên hệ với ý định sẽ chuyển sang Barcelona hay Real Madrid nhưng cuối cùng anh quyết định gắn bó với Arsenal. Hành động đó đã cho thấy lòng trung thành và tình yêu cho câu lạc bộ và anh ký hợp đồng 4 năm sau trận chung kết C1.

Hiện tại Thierry Henry đứng thứ 3 trong top cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử giải Ngoại hạng, kém 96 bàn so với Alan Shearer đứng ở vị trí đầu tiên và 21 bàn so với Andy Cole ở vị trí thứ 2 ( nhưng đừng quên Titi mới 29 tuổi và phía trước anh còn 4 mùa giải với Arsenal).

David Dein, phó chủ tịch Arsenal tuyên bố câu lạc bộ từ chối hai cái giá 50 triệu bảng “của những câu lạc bộ Tây Ban Nha” trước khi ký hợp đồng mới. Nếu như một trong hai cái giá đó được chấp nhận thì có lẽ Henry sẽ là cầu thủ đắt nhất thế giới - phá vỡ kỷ lục chuyển nhượng 47 triệu bảng mà Real Madrid đã phải trả để có được Zinedine Zidane năm 2001. (Thật may kỷ lục này chỉ được đặt trong câu điều kiện 3).

Thierry Henry cũng là người ghi bàn đầu tiên trên sân vận động mới của Arsenal - Emirates trong trận đấu chia tay Bergkamp vào 22-6-2006. Có lẽ Henry là cầu thủ của những kỷ lục đá cho một đội bóng của những kỷ lục.

Giải thưởng

Henry đã nhận được rất nhiều lời ca tụng và những phần thưởng. Đó là điều xứng đáng dành cho anh - một cầu thủ tài năng, nổi tiếng về tác phong lịch lãm và tư cách đứng đắn.. Anh đứng thứ 2 cho danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới 2003 và 2004 do FIFA bình chọn khi đang cùng Arsenal lập lỷ lục bất bại (26 trận thắng, 12 trận hoà) tại giải Ngoại hạng Anh. Henry cũng đạt được danh hiệu Cầu thủ của năm do hội nhà báo bóng đá bình chọn 3 lần, và danh hiệu cầu thủ Pháp của năm 4 lần - một kỷ lục của mọi thời đại khó có thể phá vỡ. Mùa bóng 2004-05 mặc dù Arsenal chỉ đứng thứ hai tại Premier League Henry vẫn toả sáng với danh hiệu Đôi giày vàng Châu Âu lần thứ 2 liên tiếp (mặc dù phải “ chia sẻ ” với cầu thủ Diego Forlan của Villareal năm 2005). Anh là cầu thủ đầu tiên giữ được danh hiệu đó.

Sự nghiệp quốc tế

Thierry Henry được đá trận đấu quốc tế đầu tiên vào 10-1997 trong trận Pháp - Nam Phi. 4 tháng trước đó anh đã chơi cho U20 của Pháp trong giải trẻ thế giới 1997. Anh cũng nằm trong tuyển Pháp tham dự WC 1998 và nằm trong Top cầu thủ Pháp ghi bàn với 3 bàn thắng. Henry cũng nằm trong danh sách cầu thủ Pháp đá trận chung kết - trận thắng Brazil 3-0 với vai trò cầu thủ dự bị. Ở tuổi 21 anh đã được cùng đồng đội nâng cao chiếc cúp vô địch Thế giới. Sau đó, Henry cùng đồng đội được nhận huân chương cao nhất của nước Pháp - Bắc Đẩu Bội Tinh.

Henry tiếp tục là thành viên của đội tuyển Pháp tham gia Euro 2000, lại tiếp tục ghi 3 bàn thắng và nằm trong top cầu thủ ghi bàn của đội Pháp trong đó có bàn thắng san bằng tỉ số trong trận bán kết gặp Bồ Đào Nha. Pháp đã giành chiến thắng trong trận đấu đó ở hiệp phụ nhờ vào pha đá phạt đền thành công của đội trưởng Zinedine Zidane.

Tuy nhiên WC 2002 đã phải chứng kiến đội Pháp của Henry với tư cách là đương kim vô địch sớm bị loại khỏi vòng đấu bảng khi mà họ không thể ghi dù chỉ là một bàn thắng. Sau khi để thua ngay trận đầu tiên ra quân tại WC, Pháp lại bị tổn thất khi Henry bị phạt thẻ đỏ do phạm lỗi trong trận đấu thứ 2 của họ gặp Uruguay. Pháp phải chấp nhận hoà 0-0 còn Henry bị buộc phải vắng mặt trận đấu cuối cùng - trận đấu mà Pháp thua Đan Mạch 0-2.

Năm tiếp theo, Henry quay trở lại đội tuyển tham dự cúp Liên lục địa. Đội tuyển Pháp thiếu vắng hai trụ cột là Zidane và Vieira đã giành chiến thắng nhờ công lớn của Henry - người được trao tặng danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu 3 trong 5 trận của đội tuyển Pháp. Và trong trận chung kết, anh ghi bàn thắng vàng ở hiệp phụ để đưa Pháp giành chiến thắng trước Cameroon 1-0. Henry nhận được cả hai giải thưởng: Quả bóng vàng cho cầu thủ xuất sắc của giải và Đôi giầy vàng cho cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất.

Henry cũng cùng đội Pháp tham dự Euro 2004, thắng Anh tại vòng bảng nhưng lại bị thua Hy Lạp tại tứ kết.

Tại WC 2006, Henry là một mẫu cầu thủ được chơi tự do trong đội hình Pháp. Anh đá ở vị trí tiền đạo cắm và mặc dù khởi đầu trận đấu có vẻ rất mờ nhạt thậm chí là thờ ơ thì anh luôn tiềm ẩn sự nguy hiểm. Bằng chứng là anh vẫn nằm trong Top cầu thủ ghi nhiều bàn thắng tại WC. Anh ghi được 3 bàn trong đó có 1 bàn thắng rất quan trọng trong trận gặp Brazil - bàn thắng thể hiện sự nhanh nhạy, đẳng cấp của một tiền đạo hàng đầu thế giới. Anh cũng “kiến tạo” được hai quả phạm lỗi dẫn đến hai quả phạt mà kết quả là hai bàn thắng quan trọng. Một số bình luận viên chỉ trích anh vì giả vờ ngã và Pháp đã thắng một cách không thuyết phục trong trận gặp Tây Ban Nha. Nhưng trước khi chỉ trích Henry và Pháp, hãy nên trách Tây Ban Nha vì những sai lầm trong chiến thuật. Nhưng thật đáng tiếc Pháp đã để thua Italia trong trận chung kết bằng loạt sút Penalty định mệnh. Đơn giản vì Chúa là người Italia.

Henry nằm trong danh sách 10 cầu thủ được để cử Quả bóng vàng cho danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất WC, phần thưởng mà cuối cùng đã thuộc về người đồng đội của anh trong tuyển Pháp - Zinedine Zidane.

Gia đình và hôn nhân

Là tuyển thủ quốc gia Pháp nhưng cha của Henry là người đảo Guadeloupe còn mẹ anh là người Martinique. Vào 27-5-2005 Henry chào đón sự ra đời của đứa con đầu lòng, một bé gái xinh xắn có cái tên thật đáng yêu: Tea Henry. Henry đã kết hôn với người mẫu Anh Nicole Merry. Anh sống cùng gia đình tại Hamstead, phía bắc London.

Chống phân biệt chủng tộc

Luis Aragones trở thành huấn luyện viên trưởng của Tây Ban Nha vào năm 2004. Trong một buổi tập luyện của đội tuyển một nhóm phóng viên Tây Ban Nha đã chộp được cảnh Aragones “khuyến khích” người đồng đội của Henry tại Arsenal - Jose Antonio Reyes theo cách rất lạ ( “Hãy chuyền bóng cho anh ta và chỉ cho tên da đen đê tiện đó thấy rằng anh giỏi hơn anh ta” ). Sự việc đã gây ra một làn sóng bất bình trong công chúng Anh yêu cầu Aragones phải bị sa thải. Khi đội Tây Ban Nha gặp Anh trong một trận đấu giao hữu tại Bernabéu cũng vào năm đó, nhóm cổ động viên đã có thái độ thù địch. Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha ( RFEF ) phạt HLV trưởng 3000 bảng. Sau khi điều tra UEFA quyết định phạt RFEF 100000 fanc Thuỵ Sĩ và cảnh cáo rằng những sự việc tương tự trong tương lai sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc hơn bằng cách cấm các cổ động viên Tây Ban Nha được đến sân cổ vũ đội nhà thi đấu trong những trận đấu quốc tế.

Henry và hãng Nike đang cùng tiến hành chiến dịch “ Đứng lên nói thẳng” với nạn phân biệt chủng tộc trong bóng đá. Anh cũng là thành viên trong chiến dịch Joga Bonito của Nike và “Những người Bồ Đào Nha” vì vẻ đẹp của bóng đá.

Chuyện bên lề

- Henry thông thạo tiếng Pháp, Anh, Italia, và cả tiếng Antillean Creole (ngôn ngữ của quê hương bố mẹ anh).

- Ngoài bóng đá, môn thể thao yêu thích của Henry là bóng rổ. Anh là một fan trung thành của San Antonio Spurs, một đội thuộc giải NBA.

- Nổi tiếng với biệt danh "Con của thần gió", Henry chỉ cần từ 10,1s đến 10,5s để hoàn thành quãng đường 100m. Anh cũng có nhiều nickname khác: Titi, TH14, Va Va Voom, Tel.

- 12-4-2006 Henry kí kết thoả thuận gia nhập Reebok trong chiến dịch “Tôi là tôi”được tiến hành vào 1-8-2006

- Anh xuất hiện trong mục quảng cáo “Trận đấu bí mật của Nike” năm 2002, cùng đội với Hidetoshi Nakata và Francesco Totti, đánh đầu ghi bàn thắng quyết định sau khi nhảy lên lưng của Totti trước sự ngạc nhiên của Ronaldo, Figo và Roberto Carlos.

- Xuất hiện trong mục quảng cáo Renault Clio trong suốt giai đoạn 2003-2005. Anh đã sáng tạo ra một từ va-va-voom có nghĩa là cuộc sống hay cảm xúc. Từ này sau đó đã được đưa vào trong từ điển tiếng Anh Oxford.

- Trong suốt WC 2006 Henry là ngôi sao của show quảng cáo cho Pepsi Gold một nhãn hiệu của Pepsi mới được khai trương ở Thuỵ Sĩ, Iceland, Ai Cập, Romani và Lebanon.

- Không cầu thủ Pháp nào từng vượt qua được số bàn thắng của Henry trong bất cứ kỳ WC nào anh từng tham gia: Anh ghi được 3 bàn tại France 98, không bàn nào tại WC 2002 (cả đội Pháp không ghi được một bàn thắng nào), và 3 bàn tại WC 2006.

- Ngày 22-6-2006 Henry trở thành cầu thủ Arsenal đầu tiên ghi bàn trên sân vận động Erimates giúp Arsenal giành chiến thắng 2-1 trước Ajax trong trận đấu giã từ sự nghiệp cầu thủ của Dennis Bergkamp.

- Trong mùa giải 2005-06 Thierry Henry ghi được 27 bàn thắng nhiều hơn cả tổng số bàn thắng mà Sunderland (26 bàn).

- Anh có sở thích sưu tầm xe hơi thể thao và lâu đài cổ. Henry sở hữu một chiếc Mercedes-Benz_SLR_McLaren, Porsche_Carrera_GT và một chiếc Aston_Martin_Vanquish.

Hiện anh đã chuyển sang Barca.

henry_henry
08-03-2008, 06:50 PM
Karl Fredrik Ljungberg


http://www.kaliteliresimler.com/data/media/1225/Ljungberg_1.jpg

Họ và tên Karl Fredrik Ljungberg
Sinh 1977-04-16
Vittsjo
Sweden
Vị trí Attacking Middle Field - Tiền vệ công
Số áo 8
CLB Cũ Halmstads
Gia nhập Arsenal 1998-09-17

Anh là người đội trưởng tài hoa và là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của ĐTQG Thuỵ Điển.

Bước đệm

Freddie bắt đầu sự ngiệp chơi bóng của mình từ năm mới 5 tuổi, cho đội trẻ tại clb Halmstads của Thuỵ Điển. Anh cũng đã từng chơi một số môn thể thao khác như khúc côn cầu (Hockey) hay bóng ném (Handball). Sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp của anh chính thức bắt đầu từ ngày 23/10/94 cho đội Halmstads khi tiếp AIK tại giải VĐQG Thuỵ Điển. Anh đã có 16 bàn thắng trong tổng số 139 lần ra quân và giúp Halmstads VĐ giải VĐQG, cúp QG trước khi về đầu quân cho đội bóng chủ sân Emirates.

Sự nghiệp ở Arsenal

Phải mất 3 triệu bảng Giáo sư mới có được chữ kí của anh vào năm 1998. Giáo sư của chúng ta đã bị thuyết phục hoàn toàn khi theo dõi màn trình diễn chói sáng của anh trong màu áo ĐTQG Thuỵ Điển khi tiếp đối thủ đến từ Đảo quốc sương mù (dù không phải là trực tiếp).

Không lâu sau khi vượt qua cuộc kiểm tra y tế lần cuối cùng, Freddie đã có màn ra mắt ấn tượng trong màu áo Arsenal khi ghi bàn cho The Gunners từ ghế dự bị trong cuộc đón tiếp quỷ đỏ thành Manchester. Chính phong độ chói sáng của Freddie mà phần lớn đến từ hiệp hai đã giúp Ars lập cú đúp vào năm 2002. Trong lúc Pires bị chấn thương đầu gối và phải nghỉ gần một tháng, chính Freddie đã vào sân và ghi bàn trong phần lớn các trận đấu còn lại của mùa giải đó bao gồm cả cú dứt điểm hạ gục Chelsea tại trận CK cúp FA. Anh cũng luôn gây được sự chú ý của các cổ động viên bởi mái tóc đỏ rực của mình trước khi vào mùa WC cùng năm đó.

Vị trí ưa thích của Freddie là tiền vệ cánh, hơi nhô lên, ngoài ra, anh có thể chơi tốt trong sơ đồ 4-5-1 hoặc chơi vị trí tiền đạo thứ hai.

Từ sau sự ra đi của bộ đôi pháo thủ nổi tiếng Petit và Overmars, Freddie đã có cơ hội được ra sân nhiều hơn và một chỗ đứng vững chắc trong đội hình chính của The Gunners. Tuy nhiên, anh cũng phải chiến đấu với những chấn thương liên miên cùng với sự xuất hiện thường xuyên của căn bệnh đau nửa đầu quái ác.

Năm 2005, những chấn thương có phần “bí ẩn” đã làm cho Freddie sợ rằng mình có thể sẽ nhiễm phải căn bệnh ung thư mà nguyên nhân chính là sự nhiễm độc máu, kết quả của những hình xăm vô tội vạ trên người anh, dĩ nhiên đó chỉ là những kết luận hồ đồ và vô căn cứ!

Năm 2006, mặc dù bị chấn thương mắt cá chân khá nghiêm trọng, Freddie vẫn cố gắng thi đấu cho đội hình của các pháo thủ tại trận CK cúp C1 khi đón tiếp Barca tại Stard de France (trận đấu đáng ra The Gunners phải có một kết quả tốt hơn nếu không có những quyết định đầy phũ phàng và nghiệt ngã của trọng tài).

Sự nghiệp quốc tế

Ljungberg ra mắt ở đội U21 Thuỵ Điển. Lần đầu anh khoác áo đội tuyển quốc gia là vào 24/1/1998 trong trận đấu với đội tuyển Mĩ. Anh cũng được gọi vào đội tuyển ở Euro 2000, World Cup 2002, Euro 2004. Tại World Cup 2006, anh đã ghi bàn thắng thứ 13 cho đội tuyển vào phút 89 trong trận gặp Paragoay. Vào 8/8/2006, anh đã trở thành đội trưởng đội Thuỵ Điển thay cho Olof Mellberg.

Đời tư

- Anh là người mẫu quảng cáo đồ lót nổi tiếng của Calvin Klein.

- Anh có biệt danh là Freddie ở Anh và Ljungan ở đội Thuỵ Điển.

- Freddie có 1 cậu em trai tên là Filip.

- Bạn gái của anh là ca sĩ và cựu thành viên của nhóm nhạc nổi tiếng Sclub7 - Rachel Stevens.

- Anh sống ở Hampstead khi ở London và Halmstad khi ở Thuỵ Điển.

Thi đấu chuyên nghiệp

- Ghi 70 bàn trong 302 lần ra sân tại Highbury.
- Với Halmstad: Swedish Cup 95
Swedish league 97
- Với Arsenal: Communty Shield: 97
FA Premier league 01-02, 03-04
FA Cup 02,03,05.

henry_henry
08-03-2008, 06:52 PM
Nigel Winterburn


http://eur.news1.yimg.com/eur.yimg.com/ng/sp/empics/3815982

Họ và tên: Nigel Winterburn
Sinh: 1963-12-11
Arley
Warwickshire
England
Vị trí: Left back – Hậu vệ cánh trái

Câu lạc bộ cũ
Năm CLB Trận ( Số bàn thắng)
1981-1982 Birmingham City 0 (0)
1982-1983 Oxford United 0 (0)
1983-1987 Wimbledon 165 (8)
1987-2000 Arsenal 440 (8)
2000-2003 West Ham United 82 (1)

Tại đội tuyển quốc gia
1990–1991 Anh B 3(0)
1990–1993 Anh 2 (0)


Nigel Winterburn, một cầu thủ bóng đá người Anh, là một trong bộ tứ vệ huyền thoại cuối thập kỷ 80 và trong thập kỷ 90 của Arsenal. Hiện nay ông đã giải nghệ.

Đá hậu vệ trái, Winterburn bắt đầu sự nghiệp chơi bóng của mình tại Clb Birmingham City. Mặc dù đã từng được gọi vào đội trẻ của tuyển Anh, nhưng ông chưa từng được đưa vào đội hình chính thức tại Clb. Ông chuyển sang chơi cho Clb Oxford United, sau đó vào năm 1983, ông được Dave Bassett đưa về gia nhập đội bóng Wimbledon (đội bóng "nổi danh" với cái tên Crazy Gang) theo hình thức chuyển nhượng tự do, đội bóng này vẫn đang tiếp tục những bước tiến vững chắc trên con đường thăng hạng sau khi đạt được những thành công từ giải non-league (giải phong trào) 6 năm trước. Winterburn được xem là nguồn sức mạnh tinh thần rất lớn của Wimbledon và ông cũng dành được những danh hiệu ở đội U21 Anh.

Winterburn là thành viên năng nổ trong đội hình tiêu biểu đã dành quyền lên chơi ở giải hạng Nhất năm 1986. Đội hình này gồm có những cầu thủ giàu kinh nghiệm như John Fashanu và Lawrie Sanchez. Trong mùa giải đầu tiên của họ ở giải đấu danh giá, họ đã về đích ở vị trí nửa trên của bảng xếp hạng, vào đến tứ kết cúp FA, và chỉ chịu thua Tottenham Hotspur, đội đã vào chung kết.

Trong 4 mùa giải chơi tại sân Plough Lane, Winterburn đã từng được các cổ động viên bầu cho danh hiệu cầu thủ của năm, thành tích tuyệt vời của ông đã khiến cho huấn luyện viên của Arsenal, George Graham – người đang tìm kiếm cầu thủ có thể thay thế lâu dài cho đội trưởng Kenny Sansom – đặc biệt quan tâm.

Vào mùa hè năm 1987, Arsenal đã chi 350,000 bảng cho Wimbledon để đưa Winterburn về sân Highbury. Ông đã không cạnh tranh được vị trí với Sansom, cầu thủ trụ cột của đội tuyển Anh. Lần đầu tiên được ra sân, ông xuất hiện bên cánh phải của đội bóng, một phương pháp thay thế mang tính bắt buộc của Graham sau khi vị huấn luyện viên này không thành công trong việc tìm cầu thủ xứng đáng để thay thế cho Viv Anderson.

Mặc dù thuận chân trái, nhưng Winterburn đã đảm nhiệm bên cánh phải bằng hết khả năng của mình. Tuy nhiên ông sớm liên quan đến 2 sự kiện gây nhiều tranh cãi ở mùa giải đầu tiên của mình. Vụ việc đầu tiên xảy ra trong 1 trận đấu tại cúp FA trên sân vận động Highbury, ông đã công khai trêu tức tiền đạo của Manchester United là Brian McClair sau khi cầu thủ này bỏ lỡ quả penalty. Chuyện này đã gây nên làn sóng chỉ trích Winterburn vào thời điểm đó

Vụ việc thứ hai xảy ra trong trận chung kết cúp Liên Đoàn cuối mùa giải đó. Mặc dù bị dẫn trước từ khá sớm, nhưng Arsenal đã chiếm lĩnh thế trận và dẫn trước Luton Town 2-1 trên sân Wembley. Khi thời gian chỉ còn chưa đầy 15 phút nữa là hết giờ thì David Rocastle đã ngã trong vòng cấm địa của đội Luton. Michael Thomas là cầu thủ được chỉ định thực hiện đá phạt đền cho Arsenal trong phần lớn mùa giải nhưng không thể giải thích lý do tại sao, Winterburn lại là người đặt bóng vào chấm phạt đền. Ông chưa từng đá phạt đền cho Arsenal bao giờ, bình luận viên Brian Moore đã vô cùng ngạc nhiên – "Đây đúng là một quyết định kỳ lạ!" – và Winterburn đã bước lên chấm phạt đền.

Ông đá mạnh vào góc phải phía dưới khung thành, nhưng thủ môn đội Luton, Andy Dibble đã đoán chính xác hướng bóng và đẩy bóng ra ngoài sát cột dọc. Nếu như Winterburn ghi bàn, Arsenal gần như chắc chắn sẽ dành chiến thắng với tỷ số 3-1. Thay vì vậy, Luton đã thi đấu đầy nỗ lực và đã có hai bàn thắng trong 10 phút cuối trận, dành chức vô địch. Dù đá hỏng quả penalty, nhưng Winterburn – người chịu chỉ trích nhiều nhất – cũng không mắc sai lầm như Gus Caesar (người thay thế cho David O'Leary, không thể tham gia trận chung kết do chấn thương) khi cầu thủ này phá bóng trượt tạo cơ hội cho Luton cân bằng tỷ số 2-2.

Hậu vệ Sansom rời Arsenal vào mùa hè và kết quả là Winterburn được chuyển sang chơi với vai trò hậu vệ cánh trái quen thuộc, và ông đã đá ở vị trí này trong hơn 1 thập kỷ. Ông và người đồng đội Lee Dixon bảo vệ vững chắc 2 bên cánh, cùng với đội trưởng Tony Adams và cầu thủ kỳ cựu David O'Leary cũng như Steve Bould – đến Arsenal trong mùa giải 1989 - là những hậu vệ xuất sắc. Thường thì huấn luyện viên sẽ sử dụng cả năm cầu thủ khi Arsenal gặp đội đầu bảng Liverpool ở trận đấu cuối cùng của mùa giải, trận đấu quyết định chức vô địch giải hạng Nhất (nay là giải Ngoại hạng) trên sân Anfield. Ngôi vị vô địch gần nhất mà các cầu thủ Arsenal dành được là cú đúp năm 1971.

Tình hình của Arsenal buộc họ phải dành chiến thắng 2 bàn cách biệt thì mới có thể dành chức vô địch. Pha sút phạt của Winterburn đã đã tạo điều kiện cho Alan Smith ghi bàn thắng mở tỷ số nhanh chóng sau khi hiệp hai bắt đầu, bàn thắng thứ hai được thực hiện khi Thomas thoát xuống giữa sự kèm cặp của hàng hậu vệ Liverpool, nhận bóng từ đồng đội và ghi bàn ở những phút bù giờ, cổ động viên của Arsenal vỡ oà trong sự vui sướng.

Cuối năm đó, Winterburn lần đầu tiên được xuất hiện trong màu áo đội tuyển Anh, ông được thay vào sân trong trận gặp Italia khi tỷ số đang hoà 0-0. Mặc dù nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng như huấn luyện viên của Arsenal thường xuyên ca ngợi những ưu điểm của hậu vệ cánh trái người Anh này nhưng huấn luyện viên đội tuyển Anh, ông Bobby Robson, chỉ xem Nigel là sự lựa chọn thứ 3 ở vị trí hậu vệ trái tại World Cup 90, sau Stuart Pearce và Tony Dorigo. Chỉ khi có chấn thương mới có cơ hội vào sân cho Winterburn, nhưng điều đó đã không xảy ra. Tuy nhiên ông đã được ra sân trong đội hình B.

Arsenal kết thúc mùa giải 1990 mà không có danh hiệu nào,nhưng Winterburn và những đồng đội của ông ở hàng phòng ngự - giờ đã được tăng cường khi có thêm thủ môn David Seaman mới chuyển tới – đã tái khẳng định khả năng phòng ngự chắc chắn của họ khi đoạt lại được chứ vô địch với chỉ một trận thua duy nhất ở mùa giải tiếp theo. Hai năm sau, Winterburn đã dành được cú đúp với Arsenal và đã hoàn tất bộ sưu tập huy chương ở giải trong nước của mình. Arsenal đánh bại Sheffield Wednesday 2-1 ở cả 2 trận chung kết cúp Liên Đoàn và cúp FA, trận chung kết FA đá lại do hai đội hoà 1-1.

Phong độ của Winterburn đã khiến cho huấn luyện viên đội tuyển Anh Graham Taylor gọi ông trở lại đội tuyển trong giải đấu được tổ chức ở Mỹ, giải đấu mà đội Anh đã không thành công khi để thua đội chủ nhà 2-0. Winterburn được ra sân để thay thế cho cầu thủ chạy cánh của đội Manchester United Lee Sharpe trong trận cuối cùng gặp đội tuyển Đức.

Năm 1994, giới chuyên môn về bóng đá đã bày tỏ sự đánh giá rất cao Winterburn và các đồng đội của ông ở hàng phòng ngự của Arsenal sau khi họ kèm cặp được bộ ba tấn công rất xuất sắc người Ý bên phía Parma là Faustino Asprilla, Tomas Brolin và Gianfranco Zola. Họ đã bảo vệ được kết quả 1-0 sau khi Smith giúp Arsenal vượt lên dẫn trước ở phút thứ 20. Họ đã thi đấu với sự tự tin và dành được chiếc cúp C2, đây là thành công đầu tiên của Arsenal tại đấu trường châu lục trong một phần tư thế kỷ. Họ không gặp nhiều may mắn trong mùa tiếp theo, khi họ vào đến trận chung kết. Trong trận chung kết cúp C2 ngay năm sau đó gặp đội Real Zaragoza, trận đấu đang có tỷ số hoà 1-1 và mọi người đã nghĩ đến những loạt đá penalty, thì Nayim (cầu thủ cũ của Tottenham, đối thủ không đội trời chung của Arsenal) bằng một cú sút bóng từ vạch giữa sân đã ghi bàn thắng ở thời gian đá hiệp phụ, đem về chức vô địch cho Real Zaragoza ở ngay phút cuối cùng.

Arsène Wenger đến dẫn dắt Arsenal vào cuối năm 1996 và ông đã truyền cảm hứng mới vào đội bóng Arsenal, sử dụng hàng hậu vệ đã có tuổi (Adams đã 30 tuổi nhưng là cầu thủ trẻ nhất; Martin Keown cũng chuyển tới để thay thế cho O'Leary, giải nghệ sau thành công ở FA cúp năm 1993), giúp họ tiếp tục chơi bóng và dành được một số thành công trong những năm sau đó. Với 6 sáu cầu thủ kinh nghiệm ở hàng phòng ngự sử dụng tiếng bản xứ, những cầu thủ tài năng mới chuyển đến đã được giúp đỡ để sớm hoà nhập với đội bóng, Arsenal dành cú đúp vào năm 1998, vô địch giải ngoại hạng và cúp FA. Winterburn được huấn luyện viên tạm quyền, Howard Wilkinson gọi trở lại đội tuyển Anh trong trận đá giao hữu với Pháp năm 1999 nhưng ông không có tên trong đội hình chính thức của Wilkinson, cả Seaman, Adams, Keown và Dixon đều được đá chính nhưng Winterburn đã không cạnh tranh được với Graeme Le Saux ở vị trí hậu vệ trái và phải ngồi trên băng ghế dự bị, kết quả đội Anh bị thua với tỷ số 2-0.

Vào năm 2000, Arsenal tiến tới trận chung kết UEFA Cup nhưng Winterburn đã không có được xuất chính thức trong đội khi vị trí hậu vệ cánh trái được trao cho cầu thủ người Braxin Silvinho. Sau đó ông dần dần bị cầu thủ trẻ Ashley Cole thay thế trong vòng 12 tháng tiếp theo. Mặc dù sự nghiệp lừng lẫy tại Arsenal đã kết thúc nhưng sẽ khó có ai sánh ngang được với những thành tích của Winterburn.

Winterburn chuyển sang chơi cho West Ham United sau 429 trận thi đấu dưới màu áo Arsenal ở giải ngoại hạng (ghi được 8 bàn thắng – trong đó có một số bàn thắng ngoạn mục được ghi từ ngoài vòng cấm địa). Ông đã chơi 3 mùa giải cuối cùng của sự nghiệp cầu thủ tại Upton Park trước khi giải nghệ ở tuổi 40. Hiện nay ông làm bình luận viên cho các trận đấu. Winterburn được các cổ động viên của Arsenal đặt cho biệt danh trìu mến là 'sóc điên'.

Winterburn hiện nay đã giải nghệ và về sống ở Weston Turville, gần Aylesbury, Bucks với vợ và 3 đứa con.

henry_henry
08-03-2008, 06:54 PM
Ray Parlour


http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/40402000/jpg/_40402169_parlour270.jpg

Họ và tên: Raymond Parlour
Sinh: 1973-3-7
Romford
England
Chiều cao: 1.78m
Vị trí: Midfielder – Tiền vệ

Sự nghiệp tại Clb
Clb hiện tại: không
Đội trẻ
1989-1992 Arsenal
Đội 1
Năm Clb Trận (Số bàn thắng)
1992-2004 Arsenal 339 (22)
2004-2007 Middlesbrough 46 (0)
2007 Hull City 15 (0)

Tại đội tuyển quốc gia
1992-1994 đội U21 Anh 12 (0)
1998 Anh B 1 (0)
1999-2000 Anh 10 (0)


Raymond "Ray" Parlour là cựu cầu thủ quốc tế người Anh. Hiện nay anh không thi đấu cho Clb nào sau khi rời Hull City, trước đây anh thi đấu cho Arsenal và Middlesbrough. Khi còn chơi ở Arsenal, anh được mọi người gọi là " Pelé ở Romford "; tuy rằng biệt danh này chỉ được gọi một cách hài hước vì có thành tích xuất sắc nhưng anh không phải là người có vẻ đẹp mê hồn. Tuy nhiên anh cũng được xem như là một người hùng thầm lặng và chiếm được nhiều sự mến mộ của cổ động viên vì anh luôn thi đấu rất tích cực.


Sự nghiệp cầu thủ

Quãng thời gian thành công nhất của Parlour là khi anh còn ở Arsenal, nơi anh đã chơi trong 14 năm. Parlour gia nhập Arsenal trong vai trò cầu thủ tập sự vào năm 1989, và được ra sân lần đầu tiên dưới màu áo của các Pháo thủ trong trận gặp Liverpool vào ngày 29 tháng 1 năm 1992, trận đấu mà đội anh đã bị thua 2-0 trong đó có một quả penalty. Parlour liên tục chứng tỏ mình là một cầu thủ có tài trong một vài năm tiếp theo. Anh bị chú ý nhiều hơn vì một vài vấn đề về kỷ luật (như là cuộc cãi nhau với một người lái taxi ở Hồng Kông trong một chuyến du lịch). Tuy nhiên, trong thời gian này anh đã được ra sân dưới màu áo của đội U21 Anh 12 trận.

Anh chính thức được thi đấu nhiều hơn là vào mùa giải 1994-1995, và đã chơi trong trận chung kết cúp C2 ở mùa giải này, trận đấu mà Arsenal đã để thua Real Zaragoza (anh đã không được ra sân trong trận các Pháo thủ dành chiến thắng 1-0 trước Parma ở mùa giải trước). Tuy nhiên, Parlour chỉ thực sự phát huy được khả năng của mình khi Arsène Wenger lên làm huấn luyện viên năm 1996; anh đã được ra sân thường xuyên hơn ở bên cánh phải hay ở vị trí tiền vệ trung tâm của Arsenal. Mùa giải 1997-1998 Arsenal dành cú đúp và Parlour đã có công rất lớn với đội bóng. Anh là cầu thủ hay nhất trận chung kết cúp FA ở mùa giải đó khi các Pháo thủ dành chiến thắng trước đội Newcastle United; anh đã tạo cơ hội cho Nicolas Anelka có bàn thắng ấn định tỷ số 2-0 cho Arsenal. Tuy nhiên, anh đã không được góp mặt ở World Cup 1998 mùa hè đó (huấn luyện viên đội tuyển Anh, ông Glenn Hoddle đã sử dụng cầu thủ của Spurs là Darren Anderton).

Parlour cuối cùng cũng được ra sân trong màu áo tuyển Anh khi anh được vào sân thay người trong trận vòng loại Euro 2000 gặp Ba Lan ngày 27 tháng 3 năm 1999. Anh được ra sân 10 trận ở đội tuyển quốc gia nhưng chưa có bàn thắng nào; trận gần đây nhất của anh trong đội tuyển ở một giải đấu là trận vòng loại World Cup 2002 gặp đội Phần Lan ngày 11 tháng 10 năm 2000. Cú sút từ khoảng cách 30 yard của Parlour đã đập trúng xà ngang dội xuống và bóng đã vượt qua vạch vôi nhưng lại không được trọng tài biên công nhận bàn thắng; trận đấu kết thúc với tỷ số 0-0. Parlour đã không được góp mặt trong bất kỳ một vòng chung kết nào; chấn thương đầu gối khiến anh không thể tham gia cùng đội tuyển Anh ở Euro 2000. Trận cuối cùng anh ra sân trong màu áo đội tuyển Anh là trận giao hữu gặp đội Ý ngày 15 tháng 11 năm 2000. Parlour từng được gọi vào đội tuyển Anh vài lần khi ông Sven-Göran Eriksson lên làm huấn luyện viên, nhưng anh chưa bao giờ được vào sân dưới thời ông huấn luyện viên người Thuỵ Điển này.

Parlour tiếp tục có được thành công với Arsenal trong 4 năm tiếp theo (dành được 1 cú đúp nữa vào năm 2002), nhưng anh không nhận được nhiều sự ca ngợi của giới truyền thông như các đồng đội nổi tiếng của anh ở Arsenal, đặc biệt là anh hoàn toàn sống dưới cái bóng của Patrick Vieira trong suốt thời gian ở Clb. Cuối cùng thì anh cũng dành được sự chú ý đặc biệt của mọi người với một cú sút mở tỷ số từ khoảng cách 30 yard( hơn 27 mét) trong trận chung kết cúp FA năm 2002 gặp đối thủ Chelsea, một bàn thắng tuyệt vời khiến cho Tim Lovejoy ở Soccer AM – một chương trình về bóng đá phát vào sáng thứ bảy ở Anh - phải thốt lên "Đừng bận tâm, đó chỉ có thể là Ray Parlour"; Arsenal dành chiến thắng 2-0, với bàn thắng thứ hai của Fredrik Ljungberg. Với Arsenal, Parlour dành được tất cả 3 danh hiệu vô địch giải ngoại hạng, 4 chiếc cúp FA, 1 cúp Liên đoàn và 1 cúp C2, thi đấu 464 trận và ghi 32 bàn thắng trên tất cả các mặt trận.

Mặc dù không phải là một cầu thủ cực kỳ quyễn rũ, nhưng Parlour có một khả năng phi thường khi đánh bại đối phương một cách ngoạn mục. Tháng 3 năm 2000, anh đã có một hattrick trong chiến thắng 4-2 ngay trên sân khách khi Arsenal gặp Werder Bremen trong trận tứ kết cúp UEFA. Chín tháng sau, anh tiếp tục có một cú hattrick nữa trong chiến thắng 5-0 đè bẹp đội Newcastle United tại Highbury. Tháng 4 2001, anh có một pha ghi bàn ngoạn mục từ khoảng cách 30 yard ( hơn 27 mét) khi Arsenal đánh bại Valencia 2-1 trong trận lượt đi tứ kết cúp C1 Châu Âu tại Highbury. Những khoảnh khắc tuyệt vời khác mà anh có được trong màu áo Arsenal là vào tháng 11 năm 2003, khi anh được đeo băng đội trưởng, anh đã dẫn dắt Arsenal có được chiến thắng lịch sử 5-1 trước Inter Milan ngay tại San Siro. Điều này khiến cho nhiều chuyên gia tin tưởng rằng anh là một trong những cầu thủ được đánh giá cao nhất trong số những cầu thủ cùng lứa với anh.

Mặc dù chuyển tới Middlesbrough vào mùa hè năm 2004, nhưng anh vẫn còn được rất nhiều cổ động viên của Arsenal yêu quý. Anh ra sân 60 trận dưới màu áo Boro trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi. Anh đã không được ra sân trong trận chung kết cúp UEFA năm 2006 khi Middlesbrough đối đầu với Sevilla, ở trận này họ đã bị thua với tỷ số 4-0. Parlour đã kết thúc bản hợp đồng của mình vào ngày 25 tháng 1 năm 2007 và anh có một thời gian ngắn tập luyện cùng với đội bóng cũ Arsenal để phục hồi thể lực trước khi tìm một Clb mới.

Ngày mùng 9 tháng 2 năm 2007 anh ký 1 bản hợp đồng với Hull City có thời hạn đến hết mùa bóng 2006-2007. Sau khi giúp cho Hull City trụ hạng, vào ngày mùng 1 tháng 6 đội bóng đã không đề nghị một bản hợp đồng mới với Ray Parlour, điều này có nghĩa là anh đã kết thúc bản hợp đồng của mình.

Vụ ly dị

Parlour cưới vợ, cô Karen vào năm 1998; họ có 3 đứa con trước khi ly thân năm 2001. Tháng 7 năm 2004, họ đã đồng ý ly dị sau khi toà quyết định Karen Parlour sẽ được sở hữu 2 ngôi nhà và một khoản tiền là 250,000 bảng nhưng vẫn còn một vấn đề tồn tại chưa được giải quyết. Ray Parlour đã đưa cho Karen 120,000 bảng để đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho những đứa con của họ, nhưng cô muốn nhiều hơn thế. Ban đầu toà án quyết định Karen sẽ nhận được 250,000 bảng một năm, nhưng cả hai bên đã không hài lòng với điều này và họ đã chống án.

Toà án phúc thẩm đã quyết định tăng số tiền mà Karen sẽ được nhận lên 406,500 bảng để cô có thể bỏ ra 250,000 bảng mỗi năm dành dụm nguồn vốn cho chính mình. Trường hợp này đã khiến cho giới truyền thông suy đoán rằng những vụ ly dị trong tương lai sẽ đem lại cho mọi người một khoản tiền được chia công bằng hơn từ số tiền kiếm được trong tương lai của người chồng (vợ) cũ của họ, và một việc làm hợp lý ngày càng gia tăng về sự thoả thuận trước hôn nhân.

Danh hiệu

Với Arsenal
Vô địch giải ngoại hạng năm 1998, 2002, 2004
Vô địch FA Cup năm 1993, 1998, 2002, 2003; Á quân năm 2001
Vô địch League Cup năm 1993
Vô địch cúp C2 Châu Âu năm 1994; Á quân năm 1995
Á quân UEFA Cup năm 2000

Với Middlesbrough
Á quân UEFA Cup năm 2006

Với đội U21 Anh
Vô địch giải Toulon năm 1994

henry_henry
08-03-2008, 06:56 PM
David Seaman


http://www.taipeitimes.com/images/2004/01/15/20040114195739.jpeg

Họ và tên: David Andrew Seaman
Sinh: 19-9-1963
Rotherham
England
Chiều cao: 1.93m
Vị trí: Goalkeeper – Thủ môn

Đội trẻ
1981-1982 Leeds United
Đội 1
Năm CLB Trận (Số bàn thắng)
1982-1984 Peterborough United 91 (0)
1984-1986 Birmingham City 75 (0)
1986-1990 Queens Park Rangers 141 (0)
1990-2003 Arsenal 405 (0)
2003-2004 Manchester City 19 (0)

Đội tuyển quốc gia
1987-1992 Anh B 6(0)
1988-2002 Anh 75 (0)


David Andrew Seaman sinh ngày 19 tháng 9 năm 1963 tại Rotherham, miền nam Yorkshire. Anh là cựu thủ môn người Anh, đã chơi cho một số Clb, đáng kể nhất là Clb Arsenal và gần đây nhất là Clb Manchester City. Anh giải nghệ sau trận đấu vào ngày 13 tháng 1 năm 2004, sau khi liên tục gặp phải chấn thương ở vai. Anh đã được nhận giải thưởng MBE năm 1997 vì những đóng góp cho thể thao.

Đỉnh cao trong sự nghiệp của anh là giai đoạn anh làm thủ môn cho Arsenal và đội tuyển Anh trong thập kỷ 90 và những năm đầu thập kỷ 2000. Trong suốt thời gian thi đấu tại Arsenal anh dành được nhiều danh hiệu bao gồm 3 chức vô địch giải ngoại hạng (1991, 1998, 2002), 4 chiếc cúp FA (1993, 1998, 2002, 2003), 1 cúp Liên đoàn (1993) và 1 cúp C2 Châu Âu (1994). Trong thời gian này, anh cũng tham gia tại đội tuyển quốc gia ở World Cup 98, World Cup 2002, Euro 96 và Euro 2000. Anh được ra sân trong 75 trận và chỉ xếp sau thủ môn Peter Shilton về số lần được thi đấu dưới màu áo đội tuyển Anh.

Khởi nghiệp

David Seaman khởi nghiệp với tư cách là một cầu thủ học việc tại Leeds United. Tuy nhiên, thật đáng thất vọng với anh, anh đã không nhận được một sự chú ý nào từ huấn luyện viên Eddie Gray, người mà anh rất ngưỡng mộ. Seaman đã chuyển tới Clb chơi ở giải hạng 4 Peterborough United với mức phí chuyển nhượng là 4,000 bảng vào tháng 8 năm 1982, nơi mà anh bắt đầu tạo dựng nên tên tuổi của mình.

Chỉ hơn 2 năm sau, tháng 10 năm 1984, đội bóng ở giải hạng 2 Birmingham City đã chi trả 100,000 bảng để có được sự phục vụ của Seaman. Họ đã kết thúc mùa giải với kết quả được lên chơi ở giải hạng Nhất (nay là giải ngoại hạng), nhưng đã lại bị xuống hạng cuối mùa giải sau đó. Tuy nhiên, Seaman đã không cùng đội bóng quay trở lại giải hạng 2.

Tháng 8 năm 1986, chỉ một tháng sau sinh nhật đứa con trai thứ 2 Thomas, David Seaman chuyển tới Q.P.R. với mức phí 225,000 bảng. Được chơi trong một đội bóng có tiếng tăm hơn, trên một mặt sân mềm mại hơn, lần đầu tiên anh được ra sân trong màu áo đội tuyển Anh, được dẫn dắt bởi Bobby Robson trong một trận đấu giao hữu gặp Arập Xêút tháng 11 năm 1988. Trong thời gian ở Q.P.R., Seaman được huấn luyện bởi huấn luyên viên thủ môn ông Bob Wilson – ông chính là huấn luyện viên thủ môn của Arsenal giai đoạn đội bóng dành được cú đúp năm 1971 – người mà đã làm việc cùng anh hơn 1 thập kỷ.


Sự nghiệp tại Arsenal giai đoạn từ 1990-2003

Năm 1990, rất lâu trước khi phương thức kỳ chuyển nhượng hiện nay được áp dụng vào các giải bóng đá ở Anh quốc, thời hạn cuối cùng của kỳ chuyển nhượng vẫn là một vài tuần trước khi kết thúc mùa giải. Arsenal, đội bóng đã dành chức vô địch năm 1989, muốn ký hợp đồng với Seaman, nhưng điều này sẽ khiến cho thủ môn của Arsenal là John Lukic đối mặt với tương lai sẽ bị cho Clb khác mượn. Lukic không muốn điều này xảy ra, và việc này đã bị huỷ bỏ, nhưng vẫn còn một vấn đề chưa được giải quyết khi thời hạn cuối cùng đã trôi qua. Ngay khi mùa giải kết thúc, Clb không được quyền mua cầu thủ nữa, huấn luyện viên của Arsenal George Graham đã quay lại thương lượng bản hợp đồng với Seaman, đồng ý với mức phí chuyển nhượng là 1.3 triệu bảng (đây là kỷ lục chuyển nhượng thủ môn tại Anh vào thời điểm đó). Lukic, người được rất nhiều cổ động viên Arsenal mến mộ đã phải chuyển sang Leeds.

Trước khi được ra sân lần đầu tiên trong màu áo Arsenal, Seaman đã được huấn luyện viên đội tuyển Anh Bobby Robson lựa chọn là thủ môn dự bị cho Peter Shilton tại World Cup 1990, nhưng sau khi đến Ý anh đã phải rút tên khỏi đội tuyển do gặp chấn thương.

Quãng thời gian Seaman ở Arsenal cũng là lúc mà Clb có nhiều thành công nhất trong lịch sử của mình. Mùa giải đầu tiên, Seaman chỉ để lọt lưới 18 bàn (chơi tất cả 38 trận của mùa giải) và Arsenal dành lại chức vô địch. Tuy nhiên, năm 1992, Seaman đã không được Graham Taylor gọi vào đội tuyển Anh dự Euro 92, vinh dự này được trao cho Chris Woods và Nigel Martyn.

Năm 1993, Arsenal dành được cả 2 chiếc cúp FA và cúp Liên đoàn và được bổ sung thêm vào năm này sau đó là chiếc cúp C2 Châu Âu. Ngay trước khi anh có được thành công ở đấu trường châu lục, Terry Venables đã được chỉ định là huấn luyện viên trưởng đội tuyển Anh thay thế người tiền nhiệm Taylor sau khi ông này không thành công ở vòng loại World Cup. Venables đã đưa Seaman vào vị trí thủ môn chính thức và anh liên tục là thành viên của đội tuyển Anh cho đến năm 2002.

Năm 1995, George Graham bị sa thải, khi Arsenal sắp trở thành đội bóng đầu tiên bảo vệ được chức vô địch C2, Seaman trở nên nổi tiếng là chuyên gia bắt phạt đền sau khi chặn được cú sút của Attilio Lombardo trong loạt đá phạt đền ở trận bán kết Arsenal gặp U.C. Sampdoria. Tuy nhiên , ở trận chung kết Arsenal đã để thua Real Zaragoza trong thời gian đá hiệp phụ, với một bàn thắng ngoạn mục của Nayim từ khoảng cách hơn 41 mét vượt ra ngoài tầm với của Seaman.

Seaman sớm để lại sau lưng lỗi lầm từ pha ghi bàn của Nayim, bằng những đóng góp to lớn của mình vào đội tuyển Anh tại Euro 96 của Venables. Seaman chặn được hai pha sút phạt penalty trong giải đấu. Pha sút đầu tiên là của cầu thủ Scotland Gary McAllister trong trận đấu vòng bảng, khi Anh đang dẫn trước 1-0 (chẳng bao lâu sau, Paul Gascoigne ghi bàn nâng tỷ số lên 2-0). Pha cứu nguy thứ hai là trong trận Anh gặp Tây Ban Nha ở tứ kết, Seaman bắt được cú sút của Miguel Angel Nadal khiến đội Tây Ban Nha bị loại. Nhưng cuối cùng, đội Anh đã bị loại ở bán kết. Seaman đã trở nên nổi tiếng, anh cùng với cầu thủ đạt danh hiệu chiếc giầy vàng Alan Shearer và tiền vệ cánh Steve McManaman được nằm trong đội hình tiêu biểu do UEFA bình chọn. Philips, nhà tài trợ cho Euro 96 đã bầu chọn anh là cầu thủ hay nhất giải.

Tháng 8 năm 1996, Arsène Wenger trở thành huấn luyện viên trưởng mới của Arsenal. Ông đánh giá rất cao Seaman, năm 1998, Seaman đã giúp đội bóng có được cú đúp, vô địch giải ngoại hạng và đoạt cúp FA. Phong độ của anh đã giúp cho anh có được một xuất trong đội tuyển Anh của Glenn Hoddle dự World Cup 98 ở Pháp. Đội Anh đã thua trên chấm phạt đền trước đội Áchentina.

Trong mùa giải 1998-1999, Seaman đã chơi tất cả 38 trận và chỉ để lọt lưới 17 bàn ở giải ngoại hạng, một kỷ lục của Clb cho tới thời điểm này, mặc dù Arsenal đã để tuột chức vô địch giải ngoại hạng và cúp FA vào tay Manchester United. Mùa giải sau đó, Seaman đã thành công khi tiến tới trận chung kết cúp UEFA năm 2000, trận đấu Arsenal đã hoà 0-0 với Galatasaray, nhưng lại để thua ở loạt sút luân lưu. Anh được gọi vào đội tuyển dưới thời Kevin Keegan tham dự Euro 2000, nhưng đã gặp chấn thương khi tập các bài tập khởi động trước trận đấu thứ 3 gặp Rumani. Nigel Martyn được thay thế nhưng đã thi đấu không thành công, và pha phạm lỗi vụng về của Phil Neville cuối trận đấu đó đã biếu cho đội Rumani một quả penalty, Martyn không thể chặn được cú sút đó. Kết quả là đội Anh đã bị thua và bị loại ngay ở vòng đầu tiên.

Năm 2002, Seaman dành được chức vô địch giải ngoại hạng và chiếc cúp FA một lần nữa, hoàn tất cú đúp thứ hai trong sự nghiệp, mặc dù hai thủ môn khác của Arsenal là Stuart Taylor và Richard Wright cũng dành được những danh hiệu nhưng chủ yếu chỉ được vào sân khi Seaman không thể thi đấu do chấn thương. Seaman là thành viên trong đội bóng tham dự World Cup 2002 của huấn luyện viên Sven-Göran Eriksson, và đã thi đấu trong tất cả các trận tới khi đội Anh lọt vào tứ kết. Chuyển sang chơi lối đá tấn công ở hiệp hai, đội tuyển Anh đã loại đội bóng tinh quái Áchentina 1-0 ở vòng bảng sau khi đội trưởng David Beckham ghi bàn thắng từ chấm phạt đền. Tuy nhiên, trong trận tứ kết gặp đối thủ Brazil, Seaman đã bắt trượt pha sút phạt vòng cung của Ronaldinho khiến đội Anh bị thua 2-1; anh đã tự trách mình vì sai lầm này.

Kết quả dẫn đến những tranh luận xem Seaman có nên là sự lựa chọn số một ở đội tuyển Anh nữa hay không. Anh tiếp tục được ra sân trong màu áo đội tuyển Anh cho tới tận vòng đấu loại Euro 2004 vào tháng 10 năm 2002 gặp Macedonia. Trong trận này, anh đã để bị ghi bàn từ pha đá phạt góc của Artim Sakiri trong trận hoà 2-2, và đã khiến giới báo chí chỉ trích rất nhiều. Đấy là lần cuối cùng Seaman xuất hiện trong màu áo đội tuyển quốc gia, khi Eriksson gạt anh ra và thay vào đó là David James.

Cho dù sự nghiệp thi đấu quốc tế đã kết thúc khá bình lặng và có những chê trách về khả năng di chuyển không còn linh hoạt vào độ tuổi đó của mình, nhưng mùa giải 2002-2003 – mùa giải cuối cùng của Seaman tại Arsenal – đã kết thúc một cách đáng nhớ. Ở cúp FA, Anh đã có pha cứu bóng ngoạn mục sau cú sút của cầu thủ Sheffield United Paul Peschisolido trong trận bán kết khiến cho cựu thủ môn của Manchester United Peter Schmeichel, bình luận viên của BBC trong ngày đã phải thốt lên "đó là pha bắt bóng xuất sắc nhất mà tôi từng chứng kiến". Arsenal đã bảo vệ được tỷ số 1-0 khi thời gian còn lại của trận đấu chỉ còn khoảng 10 phút, cú đánh đầu của Peschisolido từ khoảng cách hơn 5 mét về phía khung thành khi mà Seaman lại đang đứng gần cột dọc. Tuy nhiên, anh đã bay người ngang khung thành, bằng một nỗ lực giang cánh tay phải về phía sau chặn bóng lại và đẩy bóng khỏi khung thành khi mà cầu thủ của đối phương sẵn sàng lao vào khi bóng bị bật ra. Seaman tiếp tục là đội trưởng của đội trong trận chung kết khi Patrick Vieira bị vắng mặt do chấn thương và giữ sạch lưới khi Arsenal đánh bại Southampton 1-0 trên sân vận động Thiên niên kỷ. Công lao cuối cùng của anh đã giúp Arsenal nâng cao chiếc cúp FA, và đó là danh hiệu cao quý thứ tám anh dành được với đội bóng. Seaman là thủ môn được ra sân nhiều trận nhất dưới màu áo Arsenal, và là người thứ hai sau Ray Parlour về số lần được ra sân ở giải ngoại hạng, với 325 trận.

Chuyển sang Manchester City

Seaman chuyển sang đội bóng của Kevin Keegan Manchester City theo hình thức chuyển nhượng tự do vào tháng 6 năm 2003, nhưng sự nghiệp của anh tại đây không kéo dài lâu. Trong thời gian phải nghỉ thi đấu do chấn thương, Seaman ngay lập tức tuyên bố giải nghệ vào tháng 1 năm 2004 ở tuổi 40. Điều này đã giúp Keegan chọn được người thay thế ở vị trí thủ môn – David James – người đã thay thế anh trong vị trí số một ở đội tuyển Anh hơn một năm trước. Seaman là một trong số ít cầu thủ giải nghệ đã từng chơi hơn 1000 trận đấu trong suốt sự nghiệp thi đấu ở cả cấp Clb lẫn đội tuyển.

Tháng 11 năm 2005, Paul Merson và Walsall đã gặp Seaman, và sau đó là cựu thủ môn người xứ Wales Neville Southall để đưa anh về Merthyr Tydfil chơi một trận đấu ở cúp FA khi mà hai thủ môn quan trọng của họ là Joe Murphy and Andy Oakes không thể thi đấu. Tuy nhiên, Seaman đã không đồng ý với lời đề nghị này, vì điều đó sẽ khiến cho anh vi phạm điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm – cơ quan chi trả cho những ảnh hưởng xấu do chấn thương vai của anh - khi giải nghệ.

Khi kết thúc sự nghiệp bóng đá

Sự xuất hiện trên truyền hình của Seaman đã khiến cho nhiều chương trình phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng đã mời anh để nói về toàn bộ sự nghiệp chơi thể thao của cựu thủ môn này và anh đôi khi cũng xuất hiện trên kênh truyền hình của nước Anh. Khi vẫn là cầu thủ, Seaman đã đóng một vai trong bộ phim dựa trên những sự kiện thành công của anh tại Euro 96 của đài BBC, trong vai Rachel Weisz, bộ phim có tựa đề “My Summer with Des”.

Trong một thời gian ngắn, anh đã thay thế Gary Lineker với vai trò người phụ trách trong một chương trình thi đố trên truyền hình có tên “They Think It's All Over” trước khi những nhà sản xuất quyết định thay thế anh bằng cựu cầu thủ của Arsenal, đồng đội của anh Ian Wright.

Tháng 12 năm 2004, sau khi giã từ sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp, anh trở thành một trong những nhân vật danh tiếng tham gia vào giải khiêu vũ trên băng, ở đó những nhân vật nổi tiếng sẽ ghép đôi với những bạn nhảy chuyên nghiệp. Anh tham gia cuộc biểu diễn vào thời điểm cuối cùng, thay thế cho Paul Gascoigne. Cuộc thi được phát vào ngày 26 tháng 12 trên đài BBC 1, với tám ngày chuẩn bị cho show diễn, Seaman và bạn cùng nhảy của mình Zoia Birmingham đã dành chiến thắng, trong khi các đôi nhảy khác đã tập luyện với nhau một tháng cho buổi trình diễn.

Cuối năm 2005, anh cũng xuất hiện trên một chương trình trực tiếp vì từ thiện, và sau đó quay trở lại với sân băng với một loạt các cuộc thi khiêu vũ trên băng khác, được phát trên ITV. Các chương trình này bắt đầu vào ngày 14 tháng 1 năm 2006, và Seaman đã đứng ở vị trí thứ tư. Anh cũng xuất hiện trên chương trình “All Star Family Fortunes”.

Seaman cũng dẫn một chương trình về một giải đấu golf từ thiện được tổ chức hàng năm có tên là "Safe Hands" và đã phát hành 2 đĩa DVD chủ đề về bóng đá với tiêu đề là “David Seaman's Goalkeeping Nightmares” vào năm 2003 và “Jeepers Keepers” năm 2004. Những đĩa DVD này là những clip về những vụ va chạm khó xử trong bóng đá.

Bảng thống kê
Tại đội tuyển Anh
Thi đấu trọn vẹn 75 trận
Trận đầu tiên được ra sân là trận gặp đội Arập Xêút ngày 16 tháng 11 năm 1988 tại Riyadh – trận đấu có tỷ số 1-1
Lần cuối cùng xuất hiện dưới màu áo đội tuyển là trong trận gặp Macedonia ngày 16 tháng 10 năm 2002 tại Southampton – trận đấu có tỷ số 2-2
6 lần ra sân ở đội Anh B
10 lần ra sân ở đội U21 Anh

Danh hiệu
Tại World Cup
Tham dự năm 1998 và 2002
Không tham dự năm 1990 (Rút lui do chấn thương)

Tại Euro
Tham dự năm 1996 và 2000

Giải đấu giao hữu tổ chức tại Pháp
Vô địch năm 1997

Vô địch giải hạng Nhất/giải ngoại hạng: 3
1991, 1998, 2002
Vô địch cúp FA: 4
1993, 1998, 2002, 2003
Vô địch cúp Liên đoàn: 1993
Vô địch cúp C2: 1994

henry_henry
09-03-2008, 05:53 PM
Robert Pirès


http://www.football-shirts.co.uk/images/players/RobertPires.gif

Họ và tên: Robert Emmanuel Pirès
Sinh: 1973-10-29
Reims
France
Chiều cao: 1.85 m
Vị trí: Attacking midfielder, Winger – Tiền vệ tấn công, tiền vệ cánh

Sự nghiệp tại Clb
Clb hiện tại: Villarreal
Số áo: 7

Đội trẻ:
1989–1992 Reims
1992–1993 FC Metz

Đội 1
Năm CLB Trận (Số bàn thắng)
1992–1998 FC Metz 162 (43)
1998–2000 Marseille 66 (8)
2000–2006 Arsenal 189 (62)
2006– Villarreal 11 (3)

Tại đội tuyển quốc gia
1996–2004 Pháp 79 (14)


Robert Emmanuel Pirès sinh ngày 29 tháng 10 năm 1973 tại Reims, Pháp. Anh là cầu thủ bóng đá quốc tế người Pháp gốc Bồ Đào Nha và Astures. Anh hiện đang chơi bóng cho Clb Villarreal ở vị trí tiền vệ cánh. Anh thường chơi ở vị trí tiền vệ cánh trái nhưng có thể sang chơi bên cánh phải hay với vai trò hộ công.

Sự nghiệp cầu thủ tại giải Pháp

Pirès tốt nghiệp học viện đào tạo cầu thủ trẻ của Clb Metz, lần đầu tiên được lên chơi ở đội 1 là trong trận gặp Lyon năm 1993. Trong 6 mùa giải ở đây anh đã thi đấu 162 trận ghi được 43 bàn thắng, và dành được chức vô địch giải Pháp, sau đó đã chuyển tới Olympique de Marseille với giá 5 triệu bảng vào năm 1998. Pirès đã có hai mùa giải tại Marseille. Ở mùa giải đầu tiên, đội bóng của anh đã kết thúc với vị trí á quân, kém đội đoạt chức vô địch đúng 1 điểm, và mùa giải thứ hai anh không thường xuyên được thi đấu cả trận, điều này đã khiến anh tẩy chay Clb vào cuối mùa giải.

Sự nghiệp cầu thủ tại Anh

Năm 2000, anh đã ký hợp đồng với đội bóng Arsenal với mức phí chuyển nhượng 6 triệu bảng sau khi kiên quyết từ chối lời mời từ Real Madrid và Juventus.Anh sẽ thay thế cho Marc Overmars, cầu thủ này đã chuyển đến FC Barcelona với mức phí kỷ lục cho một cầu thủ Hà Lan, 25 triệu bảng. Ban đầu, Pirès thi đấu không tích cực, một vài người đã chỉ trích anh sau khi anh phát biểu rằng các trận bóng đá ở Anh quá thiên về sức mạnh. Tuy nhiên, anh dần dần lấy lại được phong độ như đã từng thể hiện ở Clb Metz, tự mình ghi một bàn thắng rất tuyệt vời trong trận gặp Lazio tại cúp C1 mùa giải 2000-2001. Dành chiến thắng trước Tottenham Hotspur trong trận bán kết cúp FA, nhưng đã thua Liverpool 2-1 ở trận chung kết.

Tới mùa giải 2001-2002, Pirès hoàn toàn bị lôi cuốn vào các trận bóng đá Anh và anh đã có một trong những mùa giải hay nhất của mình. Pirès đã ghi được những bàn thắng ngoạn mục trong trận gặp Middlesbrough và Aston Villa. Trong trận gặp Aston Villa, Pirès đã đuổi theo đường chuyền dài của Freddie Ljungberg sau đó tâng bóng vượt qua George Boateng, và cuối cùng vượt qua cả thủ môn Peter Schmeichel. Bàn thắng trong trận gặp Aston Villa đó đã làm cho Andy Gray (bình luận viên của trận này) vô cùng thán phục. Anh dẫn đầu danh sách các cầu thủ hộ công xuất sắc nhất giải ngoại hạng, được bầu hai danh hiệu cầu thủ của năm và cầu thủ hay nhất mùa giải của Arsenal, mùa giải này Arsenal đã dành dược chức vô địch. Anh đã dành được những danh hiệu này cho dù anh đã không thi đấu trong 2 tháng cuối cùng của mùa giải do gặp phải chấn thương dây chằng ở trận đấu gặp Clb Newcastle United.

Sau một thời gian dài phải nghỉ thi đấu vì chấn thương, tháng 11 năm 2002, Pirès quay trở lại chơi bóng khi được thay vào sân trong trận gặp Auxerre ở cúp C1. Ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, nhưng anh đã tìm lại được phong độ của mình, ở mùa giải đó anh được ra sân 26 trận tại giải ngoại hạng, ghi được 14 bàn thắng. Pirès kết thúc mùa giải này bằng bàn thắng trong trận chung kết cúp FA gặp đội Southampton, bàn thắng đã giúp Arsenal dành được chức vô địch.

Anh tiếp tục là cầu thủ quan trọng trong đội hình của Arsenal dành chức vô địch giải ngoại hạng mùa bóng 2003-2004, duy trì được thành tích bất bại và trở thành Clb ở giải ngoại hạng Anh đầu tiên làm được điều này trong vòng 115 năm qua. Pirès và người đồng đội của anh, Thierry Henry là những người có công lớn trong mùa giải đó, họ ghi tổng cộng 57 bàn thắng trong tất cả các giải đấu. Pirès có bước khởi đầu mùa giải chậm chạp, nhưng một bàn thắng phi thường trong trận đối đầu với Liverpool ngay tại sân Anfield trong mùa giải đó đã gây ngạc nhiên cho mọi người. Người hâm mộ được thấy những kỹ năng chơi bóng cũng như dứt điểm tuyệt vời của anh, đặc biệt là những bàn thắng của anh trong trận gặp Liverpool, Bolton và Leeds. Anh đã làm cho nhiều người ngạc nhiên trong trận lượt đi cúp C1 Châu Âu gặp Chelsea, anh đã chiến thắng John Terry trong pha không chiến và đánh đầu giúp san bằng tỷ số cho Arsenal, sau khi Eidur Gudjohnson đưa Chelsea vượt lên dẫn trước. Không may cho Arsenal và bản thân Pirès, họ đã bị loại sau khi để thua 1-2 trong trận lượt về, do bàn thắng ở phút thứ 87 của Wayne Bridge. Pirès cũng thể hiện khả năng tạo nên đột biến của mình bằng một bàn thắng cực kỳ kỹ thuật trong trận làm khách trước Tottenham Hotspur tại White Hart Lane, bàn thắng do chính anh tạo nên khi kết thúc pha đi bóng bằng một cú dứt điểm siêu phàm, ghi bàn thứ hai của trận đấu cho Arsenal. Tottenham đã không từ bỏ, họ cố gắng thi đấu và đã có bàn thắng gỡ hoà 2-2. Cho dù vậy, Arsenal vẫn dành chức vô địch sau trận đấu đó. Pirès kết thúc mùa giải với thành tích ấn tượng, 14 bàn thắng và 7 lần kiến tạo ở giải ngoại hạng Anh. Ở mùa giải này, anh là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của Arsenal sau Thierry Henry và anh cùng với Dennis Bergkamp là những người có nhiều đường chuyền cho đồng đội ghi bàn nhất.

Một số người đã chỉ trích thái độ thi đấu không tích cực của anh trong mùa giải 2004-2005. Tuy nhiên, Pirès vẫn nằm trong số những cầu thủ ghi bàn hàng đầu, anh xếp ở vị trí thứ 3 với 14 bàn thắng ở giải ngoại hạng, đứng sau người đồng đội Thierry Henry và một cầu thủ của Crystal Palace là Andrew Johnson (cầu thủ đã có 11 bàn thắng từ chấm phạt đền trong số 21 bàn thắng ở giải ngoại hạng của mình). Pirès cũng có được chức vô địch cúp FA lần thứ hai sau khi đội bóng Arsenal đánh bại Manchester United trên chấm phạt đền. Edu đã vào sân thay anh trong hiệp phụ thứ hai ở trận đấu đó.

Trong mùa giải 2005-2006, Pirès đã đàm phán với Arsenal về một bản hợp đồng mới, anh mong muốn bản hợp đồng này sẽ có thời hạn 2 năm. Do chính sách của Clb về những cầu thủ trên 30 tuổi, Pirès chỉ được đề nghị gia hạn bản hợp đồng của anh thêm 12 tháng và sẽ hết hạn vào tháng 6 năm 2006. Pirès khởi đầu mùa giải một cách tồi tệ, và thường phải nhường vị trí ở cả hai bên cánh cho Freddie Ljungberg, Jose Antonio Reyes và Alexander Hleb. Tuy nhiên, tình trạng này đã dần được cải thiện (đáng kể nhất là từ tháng 1 năm 2006). Mặc dù đã 33 tuổi, nhưng Pirès vẫn ghi được số bàn thắng ở các giải đấu mà Arsenal tham gia nhiều hơn những cầu thủ trẻ hơn anh như Ljungberg, Reyes và Hleb. Trận cuối cùng của Pirès trong màu áo Arsenal là trận chung kết cúp C1 gặp Barcelona, trong trận này anh là cầu thủ bị thay thế sau khi thủ môn Jens Lehmann nhận thẻ đỏ rời sân. Anh cảm thấy không hài lòng khi phải rời sân trong trận đấu cuối cùng của mình ở Arsenal. Pirès kết thúc mùa giải với vị trí là cầu thủ ghi bàn thứ hai của đội bóng sau Robin Van Persie. Hai khoảnh khắc đáng nhớ nhất ở mùa giải cuối cùng của Pirès tại Arsenal là khi anh vượt qua Patrick Vieira, cầu thủ của Juventus (dẫn tới bàn thắng mở tỷ số cho Arsenal), và pha chuyền dài của anh cho Henry, sau đó cầu thủ này đã chuyền bóng cho Cesc Fàbregas ghi bàn.

Tháng 5 năm 2006, anh đồng ý lời đề nghị của Clb Villarreal sau một tháng suy nghĩ, cũng chính Clb này đã bị Arsenal vượt qua tại vòng bán kết cúp C1. Trận cuối cùng của anh ở Arsenal là trận chung kết cúp C1, thua Barcelona với tỷ số 2-1 tại Paris. Pirès đã bị thay ra sân (người vào sân là thủ môn Manuel Almunia) ở phút thứ 20 hiệp đấu đầu tiên, sau khi Jens Lehmann bị đuổi khỏi sân do phạm lỗi với Samuel Eto'o ở bên ngoài vòng cấm.

Một trong những lý do chính mà Pirès viện dẫn để trả lời cho quyết định rời Arsenal là bởi vì anh cảm thấy anh sẽ không còn là sự lựa chọn số một trong đội hình của Arsene Wenger. Pirès cho biết: "Nhưng tôi phải nói rằng tôi đã có một vài điều cảm thấy thất vọng ở mùa giải này. Ví dụ như, tôi thường phải ngồi trên ghế dự bị." Hơn nữa, Pirès nói rằng quyết định của Wenger rút anh ra khỏi sân trong trận chung kết cúp C1 cho thấy những sai lầm của vị huấn luyện viên người Pháp này nhiều như thế nào. Pirès còn nói thêm rằng anh cảm thấy bị tổn thương, làm sao mà Arséne Wenger đã không còn tin tưởng anh nữa, đó là lý do chính mà anh tin tưởng rằng đã đến lúc anh phải ra đi.

Cổ động viên của Arsenal và các cầu thủ đều cảm thấy buồn vì sự ra đi của Pirès. Đồng đội cũ của anh, Cesc Fàbregas đã nói với tạp chí Sky vào tháng 8 năm 2006 rằng: "Thật đáng buồn khi chúng ta để mất Robert Pirès vào tay Villarreal."

Trong chương trình bình luận trận đấu trong ngày, trước trận Arsenal gặp Wigan Athletic vào ngày 11 tháng 2 năm 2007, Pires đã bày tỏ nỗi buồn vô cùng của mình sau khi bị thay ra sân quá sớm trong trận gặp Barcelona. Pires cho biết: "Tôi đã vô cùng thất vọng. Khi tôi nhìn thấy số áo của mình phải rời sân trên tấm bảng của vị trọng tài thứ tư, tôi đã không thể tin được điều đó. Đó là trận đấu cuối cùng của tôi sau 6 năm gắn bó với Clb, một trận chung kết cúp C1 trước tất cả gia đình, bạn bè tôi ở Paris, nơi tôi đã đăng quang chức vô địch thế giới và khoảnh khắc này chỉ kéo dài có 12 phút. Điều đó thật khó có thể chịu đựng được."

Sự nghiệp quốc tế

Pirès là thành viên đội tuyển Pháp dành chức vô địch World Cup 98 và Euro 2000 (Pirès đã chuyền bóng cho David Trézéguet ghi bàn thắng vàng trong trận chung kết), nhưng anh đã không được tham gia World Cup 2002 do chấn thương anh gặp phải trong thời gian chơi bóng ở Arsenal. Anh cũng được ra sân ở kỳ Olympic 1996 và Euro 2004. Tuy nhiên, mối bất hoà của anh với huấn luyện viên đội tuyển Pháp Raymond Domenech cuối năm 2004 đã khiến sự nghiệp thi đấu quốc tế của anh phải tạm dừng. Anh đã 79 lần được ra sân trong màu áo đội tuyển quốc gia, ghi 14 bàn thắng.


Danh hiệu

Tại Clb Metz
Vô địch cúp Liên đoàn Pháp mùa giải 1996-1997
Vô địch giải hạng Nhất Pháp mùa giải 1997-1998

Tại Clb Olympique de Marseille
Á quân giải hạng Nhất Pháp mùa giải 1998-1999
Á quân cúp UEFA

Tại Clb Arsenal
Vô địch giải ngoại hạng Anh mùa giải 2001-2002, 2003-2004
Vô địch cúp FA mùa giải 2001-2002, 2002-2003, 2004-2005
Vô địch Siêu cúp Anh mùa giải 2001-2002, 2003-2004
Á quân cúp C1 Châu Âu
Á quân cúp UEFA

Tại đội tuyển quốc gia
Vô địch thế giới năm 1998
Vô địch Châu Âu năm 2000
Confederation cúp năm 2001, 2003

Danh hiệu cá nhân
Huy chương Bắc đẩu bội tinh, danh hiệu cao quý nhất của Pháp năm 1998
Cầu thủ của năm do hiệp hội nhà báo bóng đá Anh bình chọn mùa giải 2001-2002 (với Arsenal)
Cầu thủ hỗ trợ tấn công tốt nhất của giải ngoại hạng mùa giải 2001-2002 (với Arsenal)
Giải thưởng chiếc giày vàng Confederation cúp, cầu thủ chơi hay nhất giải năm 2001
Tiền vệ ghi nhiều bàn thắng nhất giải ngoại hạng (14) mùa giải 2004-2005 (với Arsenal)

MA_BU
12-03-2008, 02:14 PM
Hâm nóng lại đi các MU fan :X

Alex Stepney

http://www.fantastiques.co.uk/rare_image/Photos/Stepney%20top%20half%20Man%20Utd.jpg

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/288f5ce12cc5b47444ae89520f8ea952-05alex_stepney_big.jpg

Tên đầy đủ :Alexander Cyril (Alex) Stepney
Ngày sinh :8/9/1942
Nơi sinh :Mitcham, Surrey
Chuyển đến CLB :Từ Chelsea tháng 8 năm 1966 giá 55.000 £
Ngày rời United: 01/06/1978
Trận khởi nghiệp cho MU : 17/09/1966 gặp Man City (H) tại First Division
Kết thúc tại United : Chuyển đến Mỹ năm 1978
Tổng số lần ra sân: 539
Tổng số bàn thắng: 2
Vị trí: Thủ môn
Quốc tịch: Anh

Alex Stepney đã đi vào huyền thoại của sân Old Trafford vào cái đêm mà Manchester United trở thành những nhà vô địch Châu Âu năm 1968.

Vào cái tối tháng 5 mát mẻ tại Wembley ấy, trong tình cảnh United và Benfica đang hòa nhau với tỉ số 1-1, Stepney đã ngăn chặn được một cú sút đầy mạnh mẽ của Eusebio để đảm bảo rằng trận đấu sẽ đi đến những phút thi đấu hiệp phụ. Nửa tiếng đá thêm đã được khai thác triệt để bởi các bàn thắng của George Best, Bobby Charlton và Brian Kidd để rốt cuộc Quỷ Đỏ giành chiến thắng với tỉ số 4-1, nhưng tầm quan trọng của pha cứu thua mang tên Stepney thì không hề kém nổi bật hơn chút nào.

Stepney bắt đầu sự nghiệp trong vai trò là một người học việc tại Millwall, trước khi chuyển tới Chelsea với mức giá 52.000 bảng vào tháng 6 năm 1966. Nhưng chỉ sau 3 tháng gắn bó với sân Stamford Bridge, ông đã chuyển sang Old Trafford khi Sir Matt sẵn sàng trả một mức phí kỷ lục thế giới cho một thủ môn thời đó là 55.000 bảng.

Trong trận đấu đầu tiên của mình tiếp Manchester City, ông đã giữ được sạch lưới trong chiến thắng 1-0 của Quỷ Đỏ và cùng năm đó đã giành được một huy chương League Championship để kết thúc một mùa giải đầu tiên đầy thành công đối với riêng ông. Vì những cống hiến quan trọng của ông nên Sir Matt Busby đã miêu tả việc ký hợp đồng với ông là "nhân tố quan trọng nhất đằng đằng sau chức vô địch của chúng tôi năm 1967."

Điểm sáng trong sự nghiệp lâu dài của Stepney đến vào 1 năm sau đó, khi ông tỏa sáng trong trận chung kết European Cup. Pha cứu thua đó vẫn được đánh giá là rất quan trọng, nói không ngoa, nó chẳng kém bất kỳ bàn thắng nào trong trận đấu đó. “Không có Stepney, có lẽ chúng tôi không đoạt được chức vô địch”, HLV Matt Busby từng nói lúc sinh thời. Khi tỷ số còn là 1-1, thời gian đang cạn dần, “con báo đen” Eusebio đã thoát đi trống trải. Thay vì dùng cái chân phải nổi tiếng, ông tung cú sút bằng chân trái. Stepney đã tung người trên không và bằng một cách thần kỳ nào đó, ông đẩy quả bóng đi chỗ khác. Busby đánh giá Stepney là thủ môn số một trong lịch sử Manchester United.

Trong hơn 1 thập kỷ, Stepney đã chứng tỏ mình là một thủ môn đáng tin cậy, vững chãi và có tài. Ông có những kỹ năng vị trí tuyệt vời và trong suốt mùa giải đầy bất hạnh của CLB 1973/74, ông thậm chí còn đảm trách nhiệm vụ sút phạt penalty. "Big Al", tên thân mật của ông, vẫn đang là thủ môn ghi bàn hàng đầu của CLB.

Có một chuyện khá hài hước về chàng thủ môn này vào năm 1975, Alex Stepney đã tự làm trật quai hàm của mình trong lúc đang la hét chỉ huy các hậu vệ đồng đội ở trận đấu với Birmingham City =))

Tất cả, ông đã giành được 1 huy chương vô địch Hạng Nhất, 1 FA Cup, 1 huy chương hạng 2 và European Cup. Sau đó, ông gia nhập giải bóng đá NASL năm 1978, một giải đấu theo thể thức mới của bóng đá Bắc Mỹ. Ông ký hợp đồng với Dallas Tornado, và sau đó làm HLV của Southampton, Exeter City và Manchester City trong một thời gian không lâu.

MA_BU
12-03-2008, 02:27 PM
Tony Dunne

http://cards.littleoak.com.au/197071_abc_orangebacks/mau_214_tony_dunne.JPG

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/2e75a5c12cc598282b03de920f7af2b2-06tony_dunne_big.jpg

Ngày sinh: 24/07/1941
Ngày kí hợp đồng: 01/04/1960
Trận đấu ra mắt: 15/10/1960 gặp Burnley (A) tại First Division
Ngày rời United: 01/08/1973
Tổng số bàn thắng: 2
Tổng số lần ra sân: 536
Vị trí: Hậu vệ cánh
Quốc tịch: Cộng Hoà Ai-len



Tuy là một anh hùng lặng lẽ không được ngợi ca trong đội hình mơ ước của Sir Matt Busby trong những năm 1960, nhưng Tony Dunne là một trong những hậu vệ cánh vĩ đại nhất trong lịch sử CLB. THi đấu ở vị trí hậu vệ cánh, Tony có khả năng tranh chấp bóng tuyệt vời, với lối chơi tốc dộ và quyết đoán. Sự chắc chắn của ông chính là nên tảng cững chắc cho hàng công MU thỏa sức vùng vẫy. Trong 13 năm cống hiến cho United từ 1960 đeens 1973, Tony Dunne giành 2 chức vô đich Anh (65,67), 1 FA CUp 63 và C1 năm 68

Ký hợp đồng vào năm 1960 từ Shelbourne để thế chỗ cho Noel Cantwell hoặc Shay Brennan, cơ hội lớn của Dunne đến khi anh được thay thế cho Brennan ở đội hình ra quân trong trận thắng chung kết FA Cup 1963 gặp Leicester City. Là một hậu vệ đầy can đảm và tốc độ, ông đã tiếp tục khẳng định một vị trí trong đội hình 1 sau thành công đó và chỉ vắng mặt trong duy nhất 6 trận đấu ở giải ngoại hạng trong vòng 4 mùa tiếp theo.

Và huy chương FA Cup đó chỉ mới là điểm khởi đầu. Hậu vệ cánh người Ai Len này còn giúp cho United đoạt được danh hiệu vô địch các năm 1965, 1967 và Cúp C1 châu Âu năm 1968. Ông đã có mặt ở mọi vòng đấu để vào tới trận chung kết và xứng đáng với huy chương đó như bất cứ một ngôi sao ghi bàn nào khác.

Ông rời United vào tháng 8 năm 1973 theo dạng chuyển nhượng tự do tới Bolton. Dường như ông đã chuyển khỏi United quá sớm khi mà thời gian sau đó ông vẫn tiếp tục ra sân trong màu áo của Bolton ở hơn 200 trận đấu. Tổng cộng tất cả, ông có tới hơn 700 lần góp mặt ở giải ngoại hạng trong sự nghiệp của mình. Ông cũng từng 33 lần được khoác áo đội tuyển Cộng Hòa Ai Len trong sự nghiệp thi đấu quốc tế trải dài 14 năm. Danh hiệu cầu thủ Ai Len xuất sắc nhất năm 1969 đã thuộc về ông, đây là một giải thưởng cá nhân hiếm có dành cho một cầu thủ đầy tinh thần đồng đội như Dunne.

MA_BU
12-03-2008, 02:39 PM
Joe Spence

http://www.manutd.com.vn/webplus/attachments/2e3a4aef2cc598282ffd2c720f795532-09joe_spence_big.jpg

Ngày sinh: 15/12/1898
Ngày kí hợp đồng: 01/03/1919
Trận đấu ra mắt: 30/08/1919 gặp Derby County (A) tại First Division
Ngày rời United: 01/06/1933
Tổng số bàn thắng: 168
Tổng số lần ra sân: 510
Vị trí: Tiền đạo
Quốc tịch: Anh


Là một trong ít ỏi những ngôi sao thực sự của United giữa các cuộc chiến tranh, lối chơi cánh đầy sắc sảo của Joe Spence đã khiến cho "Give it to Joe" trở thành bài hát được cất lên thường xuyên nhất trên sân vận động trong suốt 14 năm ông gắn bó với Old Trafford.

Cũng chính vì tầm quan trọng của ông với United cũng như thành phố Manchester nên ông còn được người dân địa phương gọi thân mật là "Mr Soccer".

Được sinh ra tại Throckley, Northumberland, Spence trẻ tuổi chơi bóng cho Blucher Juniors và Throckley Celtic. Ở đội bóng đầu tiên, ông đã ghi được một con số đáng kinh ngạc là 42 bàn thắng trong tổng số 49 bàn của cả đội ở mùa giải đầu tiên của mình. Năm 13 tuổi, ông bắt đầu làm công việc đào khoáng và bị bắt gia nhập quân đội lúc 17 tuổi, ở đây, ông đã được giao cho vai trò bắn súng liên thanh.

Ông đã tới đầu quân tạm thời cho Liverpool, Newburn và Scotswood trong suốt những năm phục vụ quân đội và đã giành được Army Cup cùng với tiểu đoàn của ông. Nhưng đến tháng 3 năm 1919, năm sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Spence đã ký hợp đồng với United từ đội bóng không chuyên vùng Đông bắc Scotswood.

Ông đã không phải mất nhiều thời gian để tạo được ảnh hưởng của mình khi ghi được 4 bàn thắng trong trận thắng 5-1 trước Bury tại Old Trafford ở giải đấu Lancashire Section ngay trong lần ra sân đầu tiên. Trận đấu trình làng chính thức của ông đến vào tháng 8 khi chương trình thi đấu League trở lại và đều đặn sau đó, ông đã chiếm lĩnh được 1 vị trí cho mình để lập được thành tích 510 lần khoác áo và 168 bàn thắng.

Đáng buồn cho Spence là ông đã để tuột mất tất cả các danh hiệu quan trọng và phải đến năm ông rời khỏi United - 1933 thì ông mới có được 1 lần đăng quang, đó là danh hiệu giải vô địch các đội bóng miền Bắc hạng 3 cùng với Chesterfield năm 1936.

Đó chính là sự thiếu may mắn của ông tại Old Trafford trong thời kỳ chuyển tiếp của đội bóng, nhưng trong 1 giai đoạn mà các đội bóng United thường xuyên để thua trong các giải đấu thì sự xuất hiện lối chơi đầy lôi cuốn của ông thực sự là một điểm sáng không thể bỏ qua.

Ông vẫn đứng trong Top 10 những cầu thủ khoác áo CLB nhiều nhất và kỷ lục 481 trận đấu League của ông đã đứng vững trong vòng 40 năm cho tới khi bị vượt qua bởi Bill Foulkes. Joe sau đó đã trở lại làm việc cho United trong vai trò huấn luyện và tìm kiếm tài năng.

Microwave
12-05-2008, 07:39 AM
Henry lại copy nữa rồi cái này từ AFCVN

công_tử@
17-07-2008, 01:12 AM
Mọi người còn thiếu nhân vật quan trọng nhất của lịch sử Manchester:

Sir Alex Ferguson
http://nguyenquanghuy.files.wordpress.com/2007/11/07110706.jpg
Tên đầy đủ Alexander Chapman Ferguson
Ngày sinh 31 tháng 12, 1941
Nơi sinh Glasgow, Scotland
Vị trí Huấn Luyện Viên

Bộ Sưu Tập danh hiệu

FA Premier League
Vô địch (10): 1992/93, 1993/94, 1995/96, 1996/97, 1998/99, 1999/00, 2000/01, 2002/03, 2006/2007, 2007/2008
Cúp FA
Vô địch (5): 1989/90, 1993/94, 1995/96, 1998/99, 2003/04
League Cup
Vô địch (2): 1991/92, 2005/06
FA Charity Shield
Vô địch (6): 1993, 1994, 1996, 1997, 2003, 2007
UEFA Champions League
Vô địch (2): 1998/1999, 2007/2008
Cúp C2 châu Âu
Vô địch (1): 1990/91
Siêu cúp châu Âu
Vô địch (1): 1991/92
Cúp Liên lục địa
Vô địch (1): 1999


Cuộc đời huấn luyện viên lúc thăng lúc trầm, như 1 nghề bạc bẽo trên thế gian. Cùng 1 người, mà có lúc người người tôn là thánh, rồi chỉ vì 1 sai lầm mà người người coi là tội đồ. Nhưng với Ferguson thì khác. 20 năm gắn bó cùng MU, thất bại, vinh quang đều đã nếm trải đủ. Ông là người đã làm nên Quỷ Đỏ ngày hôm nay. Không có Ferguson thì đã chẳng có những Beckham, Cole, York, Roy Keane, và thậm chí là cả Cristiano Ronaldo.

Tháng 11 năm 1986, Alex Ferguson đã có quyết định vĩ đại nhất cuộc đời mình khi ông từ chối lời mời của Arsenal, Tottenham, Rangers, và cả người khổng lồ Barcelona để đến dẫn dắt Manchester United, kế tục chiếc ghế bỏ trống của Ron Atkinson, và tiếp tục sự nghiệp dẫn dắt con tàu MU trong cơn bĩ cực. Lương của Ferguson tại MU khi ấy chỉ bằng 1/4 lương ông nhận được tại Scotland, và bà vợ ông đã hết lời khuyên can chồng không nên nhận việc tại Manchester. Nhưng ngài đã đáp lại lời vợ mình rằng: Tôi đến MU không phải chỉ vì tiền, mà đó là sứ mạng của tôi. Phải chăng ông đã biết được 20 năm sau, mình sẽ là vua của MU?

sứ mạng của Ferguson có thể chia làm 2 đoạn. Đầu tiên là thời cay đắng khó khăn của MU từ tháng 11 năm 1986 đến năm 1990, khi mà MU vật lộn trong khó khăn với những cầu thủ kiêu căng, túi tiền trống rỗng, cổ động viên quay lưng. Đỉnh điểm là tháng 1 năm 1990, khi MU rơi xuống đáy bảng xếp hạng, khi ấy sân Old Trafford đã hét to lên "Ferguson cút đi". Giai đoạn 2 cũng bắt đầu từ ngay mùa bóng khó khăn ấy, khi MU đem về chiếc cúp đầu tiên cho ngài huấn luyện viên của mình, chiếc cúp FA đã mở ra thời đại thành công huy hoàng nhất trong lịch sử của MU.8 chức vô địch Premier League, 4 cúp FA và đặc biệt nhất là chiếc cúp Vô địch Châu Âu đầu tiên kể từ năm 1968, đủ chứng minh Ferguson đã cách mạng đội bóng của mình, từ 1 đội chỉ chạy trốn suất xuống hạng mỗi mùa, trở thành kẻ săn tìm danh hiệu trên tất cả các mặt trận.

Trong cuộc đời mình, Ferguson đã "lăng xê" đội hình vô địch từ chính lò đào tạo của mình. Năm ấy, Ferguson thanh lý toàn bộ đội hình chính thức, và đặt niềm tin vào lớp trẻ của anh em nhà Neville, của Beckham, và của những ngôi sao vô danh thời ấy như Roy Keane. Tất cả họ tập hợp lại để tạo nên 1 MU vô địch. Đời cầu thủ đến rồi đi, Ferguson tận mắt chứng kiến những học trò mình từ những cậu bé, trưởng thành, bay cao, rồi ra đi hoặc treo giày, để rồi ông lại tạo nên 1 thế hệ khác để tiếp nối những vinh quang cũ. Cole và York ra đi, Nistelrooy đã thay thế. Becks ra đi, C.Ronaldo đã tiếp tục lèo lái MU. Tất cả đều là những tuyệt tác của đạo diễn Sir Alex Ferguson, khiến MU thăng hoa trên nhà hát Ngoại Hạng Anh, và cả nhà hát Châu Âu

Ferguson nổi tiếng nghiêm khắc với học trò. Ông tống cổ Paul Ince khỏi MU chỉ vì Paul đi chiếc xe có bảng số ghi L3AD3R, giống như chữ Leader, vì tại MU chỉ có ông là lãnh đạo. Kế tiếp là Jaap Stamp vì cuốn hồi ký tiết lộ nhiều chuyện trong nội bộ MU, rồi cả Roy Keane, chỉ vì nóng giận lăng mạ đồng đội cũng phải rời MU. Nhưng ông vẫn là người tình cảm. Khi King Cantona trải qua những ngày tháng đen tối trong 9 tháng bị treo giày sau cú kungfu huyền thoại, Ferguson đã đích thân bay sang Pháp để thuyết phục cậu học trò mình tiếp tục cùNG MU tiến lên

Khi ra đi, Mourinho đã nói: “Tôi sẽ nhớ Fergie. Lão già ấy thật cừ”. Fergie cũng nói: “Tôi nhớ Mourinho, không có anh ta tôi có thắng Chelsea cũng mất sướng”. Fergie luôn là như vậy, lúc nào cũng nhiều tham vọng, đầy thách thức và không chùn bước trước khó khăn.

Fergusion là tượng đài của MU, người ta sẽ mãi nhớ về ông như một vị thánh của MU ngày hôm nay

khungbodeptrai05
27-07-2008, 08:21 PM
Top 10 cầu thủ xuất sắc nhất của MU dưới thời Sir Alex

Nếu Sir Alex được ca tụng bởi lòng trung thành với sân Old Trafford, thì những học trò như Paul Scholes hay Ryan Giggs cũng xứng đáng được đứng cạnh ông, cùng với những Gary Neville, Roy Keane, Brian McClair hay Dennis Irwin.

Tuy nhiên, để chọn ra 10 học trò xuất sắc nhất dưới thời của HLV Ferguson cũng không phải là một điều đơn giản. Những cái tên được nhắc đến dưới đây, cho dù không xa lạ gì với người hâm mộ, nhưng họ vẫn chưa phải là những người xứng đáng nhất.

Gary Neville: Là một cầu thủ chuyên nghiệp nhưng cũng không phải là một cầu thủ xuất sắc. Anh luôn thi đấu nổi bật trong vai trò phòng ngự, nhưng lại không quá xuất sắc trong những pha tham gia tấn công.

Ole Gunnar Solskjer: Một mẫu cầu thủ trung thành khi đã gắn bó 11 năm với MU, nhưng anh không phải là một tiền đạo đẳng cấp thế giới.

Jaap Stam: Cho dù là một trong những trung vệ xuất sắc nhất của Premier League, nhưng anh vẫn bị Sir Alex loại khỏi đội hình của MU sau 3 năm phục vụ.

Còn dưới đây là danh sách 10 cầu thủ xuất sắc nhất của MU dưới thời HLV Alex Ferguson.

1. Eric Cantona

“Vua Eric” đã tạo ra ảnh hưởng rất lớn đến các cầu thủ của MU kể từ khi anh chuyển đến Old Trafford từ Leeds United năm 1992. Eric đã làm thay đổi cách họ luyện tập, phong cách thi đấu, và thậm chí cả cách các cầu thủ MU lấy lại tinh thần trong từng trận đấu. George Best, cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử của MU đã có lần nói rằng: “Tôi nguyện đánh đổi tất cả những danh hiệu mình đã đoạt được trước kia để được một lần sát cánh thi đấu bên cậu ấy trong một trận đấu lớn của Châu Âu tại Old Trafford.”


2. Roy Keane



Cũng giống như Eric Cantona, Keane chính là một huyền thoại đích thực của MU. Thông minh, luôn tập trung cao độ cho từng trận đấu, và anh cũng là một thủ lĩnh biết cách xốc dậy tinh thần chiến đấu cho các đồng đội. Những fan hâm mộ của MU chắc vẫn chưa quên được trận bán kết Champions League 1999 với Juventus tại Turin, chính anh đã là người mở màn cho cuộc lội ngược dòng xuất sắc của MU, để rồi năm đó Quỷ đỏ lần thứ 2 lên ngôi ở đấu trường châu lục.

3. Peter Schmeichel


Hiếm có thủ môn nào trước đó lại có khả năng chỉ huy trong khu vực cấm địa như thủ thành người Đan Mạch này. Năm 2001, Schmeichel đã được hãng thông tấn Reuters trao giải là Thủ môn xuất sắc nhất mọi thời đại khi nhận được phiếu bình chọn của hơn 200.000 fan hâm mộ.

4. Bryan Robson

Trước khi có Roy Keane, MU cũng đã có một thủ lĩnh xuất sắc - Bryan Robson. Ông đã từng là thủ quân của Quỷ đỏ trong suốt 12 năm để trở thành người đội trưởng lâu nhất trong lịch sử đội bóng. Quay trở lại những năm 80 của thế kỉ trước, mọi người thường gọi MU là “đội bóng 1 người “, và Robson chính là hiện thân của MU khi đó. Đó là một cầu thủ có khả năng tranh chấp siêu việt, luôn xuất hiện đúng lúc tại những điểm nóng. Robson luôn là điểm trọng tâm trong những kế hoạch tác chiến của Sir Alex, và luôn truyền được hưng phấn thi đấu cho các đồng đội. Có thể thấy ở Robson những tố chất của một tiền vệ đa năng ngày nay.

5. Paul Scholes

Có thể nói anh đã dành trọn cả sự nghiệp cầu thủ của mình tại sân Old Trafford. Sự thông minh, những đường chuyền đơn giản mà hiệu quả, những cú sút xa không thể cản phá đã tạo dựng cho Scholes một vị trí vững chắc trong đội hình của Sir Alex suốt hơn 10 năm qua.

6. Ruud van Nistelrooy

Tên đầy đủ của anh là Rutgerus Johannes Martinius van Nistelrooy. Nếu nói MU dưới thời Sir Alex thiếu khuyết một điều gì, thì đó chính là một trung phong đẳng cấp thế giới. Cole, Yorke, Solskjær hay Saha, đều vẫn chưa đạt đến cái “tầm” đó. Và chân sút người Hà Lan này đã khỏa lấp được sự thiếu hụt đó của MU. Sau 105 lần ra sân thi đấu cho đội bóng chủ sấn Old Trafford, Nistelrooy đã ghi được tổng cộng 95 bàn thắng. Ngay cả ở hiện tại, Ruud vẫn phát huy được bản năng săn bàn của mình trong màu áo Real Madrid.



7. Cristiano Ronaldo


Tiền vệ người Bồ Đào Nha dường như đang đạt đến độ chính trong sự nghiệp cầu thủ của mình. Cris Ronaldo đã có được 25 bàn thắng sau 25 trận đấu cho MU ở mọi mặt trận, và vẫn chưa thấy một dấu hiệu nào là anh sẽ ngừng ghi bàn ở mùa giải năm nay. Với lối đi bóng lắt léo đầy tốc độ và hiệu suất ghi bàn đáng nể, Ronaldo đang khiến nhiều người phải băn khoăn với câu hỏi: “MU sẽ ra sao khi không có Cris Ronaldo?”.

8. David Beckham

Dù trong hay ngoài sân cỏ, dù ở MU, Real Madrid hay LA Galaxy, Beckham vẫn luôn thu hút được sự chú ý của đông đảo dư luận. Không vượt trội về tốc độ hay khả năng qua người kĩ thuật, nhưng Becks cũng đã từng 2 lần là á quân cho danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA bởi khả năng chuyền bóng chính xác đến từng mi-li-mét của mình.

9. Ryan Giggs

Có mặt trong 636 trận đấu của MU trong suốt 10 năm qua, Giggs chính là một trong những yếu tố làm nên hình ảnh đáng sợ của Quỷ đỏ trong những pha phản công thần tốc. Nhưng đáng tiếc, những bước chạy của Giggs giờ đây đã có phần nặng nề hơn.

10. Mark Hughes

Với sức mạnh phần thân trên đáng nể, và khả năng dứt điểm chuẩn xác, Hughes luôn là một mối đe dọa thường trực đối với các hàng phòng ngự. Trong sự nghiệp cầu thủ, Hughes đã ghi được 164 bàn thắng sau 453 trận đấu cho MU, và hiện tại cũng đang gây được ấn tượng rất tốt khi dẫn dắt Blackburn Rovers.

Trích 24h.com.vn

zatakid
19-09-2008, 08:33 PM
Peter Schmeichel

http://www.manutd.com.vn/attachments/1890f0da1a62a16f2f251b52135db2f2-smech.jpg
Ngày sinh: 18/11/1963
Ngày kí hợp đồng: 06/08/1991
Ngày ra mắt đội một: 17/8/1991 và Notts C (H) tại First Division
Tổng số trận giữ sạch lưới: 180
Tổng số bàn thắng: 2
Tổng số trận thi đấu: 398
Vị trí: Thủ môn
Ngày rời United: 27/05/1999
Quốc tịch: Đan Mạch

Peter Schmeichel là người ở bên ngoài câu hỏi "Ai là thủ môn xuất sắc nhất trong lịch sử của câu lạc bộ Manchester United?" Mặc dù trong thực tế việc so sánh từ xưa đến nay hay từ lúc câu lạc bộ thành lập đến bây giờ là rất khó khăn, tuy nhiên có thể nói "người Đan Mạch khổng lồ" hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu cao quý đó.

Sinh ra ở Gladsaxe, Đan Mạch, anh đã là một cổ động viên của United khi còn bé và thần tượng của anh là thủ môn ở thập niên 80: Gary Bailey. Anh bắt đầu chơi bóng ở một vị trí không một người hâm mộ nào có thể tin được, đó là vị trí tiền đạo, nơi của những chân sút hàng đầu hiện nay đang ngự trị. Nhưng tài năng của một thủ môn bẩm sinh thực sự đã trỗi dậy rất sớm, anh trở thành thủ môn chuyên nghiệp và chơi cho đội bóng địa phương rồi sau đó chuyển đến Brondby để được tham gia giải đấu cao nhất của Copenhagen.

Anh là một nhà vô địch trong việc cản phá các cú sút tầm xa, đặc biệt là hiếm khi bị thua từ ngoài vòng cấm địa trong sự nghiệp ở United. Không chỉ có vậy ,với những cú sút gần anh cũng thực sự có thể khống chế tốt. Theo các nhà phân tích thể thao, chiều cao và cơ thể đồ sộ của anh là một ưu thế trời cho và điều đó đã khiến anh có được lợi thế trong các pha cản phá.

Schmeichel mang lại sự tin tưởng không chỉ cho đồng đội mà cho cả các cổ động viên. Cũng như là trở thành một thủ môn tuyệt vời nhất, anh cũng là một người "ồn ào" nhất trên sân bóng. Anh luôn trút nỗi giận dữ lên đầu các hậu vệ, những người phối hợp với anh ở hàng phòng ngự nếu nghĩ họ mắc lỗi, giọng hét của anh có lẽ còn có thể giống như tiếng còi xuyên suốt nhắc nhở cả đội. Chính điều đó đã làm nên khả năng điều khiển hàng thủ của người khổng lồ Đan Mạch.

Alex Ferguson đã tìm thấy tiềm năng của một thủ môn hàng đầu thế giới và mang anh về Old Trafford tháng 8 năm 1991 với một cái giá là 500.000 bảng Anh. Một cuộc đầu tư sinh lời không thể đếm xiết của câu lạc bộ. Người đàn ông cao lớn này đã giải quyết những khó khăn đó và những thành tích tuyệt vời đến rất sớm: League Cup 1992, Premier League 1993, 1994, 1996, 1997. Và tuyệt vời nhất chắc chắn là cú ăn ba lịch sử năm 1999.

Anh quyết định rời nước Anh vào cuối mùa giải năm 1999 bởi vì với 60 trận liên tục không có nghỉ đông đã làm kiệt sức một thủ môn huyền thoại, và anh cũng đã bước sang tuổi 35, một lứa tuổi được coi là "hết hạn" với bóng đá đỉnh cao. Tuy đã rời xa sân cỏ, nhưng anh vẫn không từ bỏ bóng đá và quyết định trở thành một nhà bình luận thể thao.

Không có một cầu thủ nào có thể mong muốn có được những thành tích tốt hơn như vậy khi rời Quỷ Đỏ. Mọi người nói rằng Peter chắc chắn đáng được hưởng 12 điểm một mùa giải ở Manchester United. Anh là người cuối cùng của hàng phòng ngự, một hòn đá tảng góp công lớn xây dựng nên một đế chế hùng mạnh. Trong 9 năm, người đàn ông này đã là một phần trong hình ảnh của Man United. Bên cạnh những tên tuổi thành danh trên thế giới như Shilton, Zoff, Banks, Jennings và Yashin, Peter Schmeichel sẽ luôn luôn và mãi mãi được coi là một thủ môn xuất sắc nhất mà bóng đá thế giới đã từng sản sinh.

zatakid
19-09-2008, 08:42 PM
Xavi Alonso

http://www.liverpoolfc.com.vn/forums/attachment.php?attachmentid=9521&stc=1&d=1188062481

Đuợc xếp ở vị trí 33 trong số 100 cầu thủ vĩ địa nhất của Liverpool
Tên: Xabi Alonso
Vị trí: Tiền vệ

Thời gian thi đấu ở Liverpool: Từ năm 2004 đến nay

Ngày sinh: 25/11/1981
Nơi sinh: Tolosa (Tây Ban Nha)

Chuyển đến từ: Real Sociedad (Tháng 8 năm 2004)

Số trận thi đấu: 87
Bàn thắng: 8

Danh hiệu: European Cup (2005), FA Cup (2006), Super Cup (2005), Charity Shield (2006)
Cầu thủ người Tây Ban Nha Xabi Alonso được xem như là bản hợp đồng có giá trị nhất của Rafael Benitez khi ông mới chuyển về dẫn dắt cho Liverpool và anh chính là một trong những nhân tố quan trọng chủ chốt trong sự hồi sinh của Liverpool thời gian gần đây. Trước đó, anh đã có một thời gian ngắn thi đấu trong màu áo của Real Sociedad trước khi bắt đầu mùa giải đầu tiên dưới sự chỉ dẫn của Benitez tại Anfielfd.

Ngay từ những ngày đầu, Xabi đã ngay lập tức gây ấn tượng bằng tầm quan sát và khả năng dẫn bóng qua người tốt. Tiền vệ người Tây Ban Nha nhanh chóng tập luyện thích nghi với bóng đá Anh, trở thành một trụ cột quan trọng trong đội hình 11 người và là cầu thủ được các CĐV yêu mến.

Đầu năm 2005, anh gặp phải chấn thương mắt cá chân do va chạm với Frank Lampard trong trận tiếp Chelsea trên sân nhà Anfield. Chấn thương đó khiến Xabi Alonso mất 3 tháng điều trị, đồng thời làm cho anh mất cơ hội thi đấu trong những trận quan trọng để chứng tỏ khả năng của mình ở CLB.

Trước khi đến với đội bóng vùng Merseyside, Xabi Alonso đã được rèn luyện một các tỷ mỉ và anh được biết đến như một trong những tiền vệ trẻ của Châu Âu có triển vọng nhất, vì thế không có gì là khó hiểu tại sao anh lại thu hút sự chú ý của Real Madrid và một lọat các CLB khác ở châu lục đến thế.
http://www.liverpoolfc.com.vn/forums/attachment.php?attachmentid=9523&stc=1&d=1188062571

Điềm tĩnh và tổ chức các đợt tấn công mỗi khi có bóng, khả năng của anh là sút những cú sút sấm sét- có thể là những đường bóng dài hoặc ngắn. Anh cũng thường xuyên có những cú sút đầy sức mạnh và chính xác, đó là những bàn thắng ngoạn mục khiến người xem phải kinh ngạc như những bàn thắng anh ghi vào lưới Fulham, Arsenal, Sunderland, Luton. Đặc biệt phải kể đến bàn thắng anh ghi tại Kenilworth Road- đây được xem như một trong những bàn thắng đẹp nhất trong lịch sử FA Cup mọi thời đại.

Tuy nhiên, trong các bàn thắng tuỵêt vời của Xabi Alonso không thể không kể đến bàn thắng anh ghi vào lưới AC Milan trong trận chung kết Champions League 2005 tại Istanbul. Sau cú đẩy bóng của Dida, anh nhanh chóng đá bồi thành công, mang lại kết quả 3-3 cho Liverpool trong 2 hiệp thi đấu chính thức.

12 tháng sau, anh có được danh hiệu thứ hai cùng với The Reds, đó là chiếc cup FA sau khi Liverpool vượt qua West Ham. Sự có mặt của anh tại SĐV Milennium ban đầu còn là một câu hỏi bởi anh gặp phải chấn thương trong trận gặp Postmouth tuần trước đó nhưng cuối cùng anh vẫn ra sân mặc dù là ra sân từ băng ghế dự bị ở hiệp hai.

Và cho đến bây giờ, Xabi Alonso đã có được mùa giải thứ tư ở giải ngoại hạng Anh cùng với Liverpool, anh sẽ tiếp tục cống hiến cho Liverpool và chúng ta sẽ không thể quên được những khoảnh khắc đáng nhớ của anh tại CLB.


Dấu ấn: Ghi bàn thắng gỡ hòa cho Liverpool trong trận chung kết Champions League gặp AC Milan tại Istanbul năm 2005.

Bạn có biết? Cha của Xabi Alonso đã từng chơi và làm HLV tại Real Sociedad và em trai của anh cũng chơi bóng ở đó.

John Arne Riise nói về Xabi Alonso: "Một cầu thủ xuắt sắc. Cái cách mà anh ấy đến với đội bóng vào năm ngoái thật không thể tin được. Tôi còn nhớ trong trận đấu đầu tiên của anh ấy tại Liverpool, anh ấy đã mất 39 phút để bỏ lỡ một đường chuyền. Điều đó khiến anh ấy trở thành một cầu thủ thuộc lọai bậc nhất trên thế giới."

zatakid
19-09-2008, 08:45 PM
Kevin Keegan

Ngày sinh: 14/02/51
Nơi sinh: Armthorpe, Yorkshire
Trận đầu tiên trong màu áo Liverpool : 14/08/1971 v Nottingham Forest(sân nhà) thắng 3-1
Số trận đã đấu: 323
Bàn thắng: 100
Những CLB khác: Scunthorpe Utd, SV Hamburg, Southampton, Newcastle United(cầu thủ), Newcastle United, Fulham, England, Manchester City(HLV)
Danh hiệu: Vô địch hạng nhất 1972/73, 1975/76 & 1976/77, vô địch FA 1974, vô địch C1 1977, cúp UEFA 1973 & 1976, Charity Shield 1974 & 1976, cầu thủ xuất sắc nhất năm 1976
Kevin Keegan: Tới Anfield để trở thành siêu sao
http://gfx.dagbladet.no/sport/2001/08/17/graff3.jpg

Trong buổi tiệc buồn sau ngày Liverpool bị thua trong trận chung kết Cúp FA năm 1971 trước Arsenal. Kevin Keegan kết thúc tuần lễ đầu tiên của mình với Liverpool bằng việc đứng lên và nói với những người ngồi cùng bàn: “Tôi tới Anfield để trở thành một siêu sao”. Sự tự tin sôi sục của tân binh mới tới từ Scunthorpe có thể làm nhiều người phải ngạc nhiên. Nhưng chỉ sau vài ngày tập luyện trước khi bước vào mùa giải mới, không ai nghi ngờ về khả năng tiến xa của Keegan.

Keegan không chỉ thuyết phục mọi ngườI bằng kỹ thuật cá nhân và khả năng kiểm soát bóng mà còn là sự hăng hái và tận tâm. Anh không tập một mình mà luôn tập cùng hậu vệ lực lưỡng Larry Lloyd để thích nghi với môi trường bóng đá đầy căng thẳng. Nhưng sự nhiệt tình thái quá của Keegan khiến anh gặp hoạ: trong trận tranh Charity Shield năm 1974 với Leeds, anh cùng Billy Bremmer của Leeds trở thành những cầu thủ Anh đầu tiên bị đuổI của Charity Shield.

Nhưng chỉ ba tuần sau, HLV Shankly khẳng định Keegan đã đủ khả năng để chơi cho ĐT Anh. Giấc mơ ấy đã trở thành hiện thực; Keegan đã được chơi trận đầu tiên trong 63 trận cho ĐT Anh trong năm đó.

Keegan tới Anfield để thay thế cho lão tướng Callaghan ở hàng tiền vệ, nhưng cuổi cùng anh lại trở thành một tiền đạo xuất sắc. Biệt tài của Keegan là kiểm soát bóng rất giỏi khi đang ở tốc độ cao. Cầu thủ có mái tóc xù từ vùng Doncaster này như có trái tim lớn gấp đôi người thường, có khả năng chạy như điên cả trận không biết mệt. Mặc dù tầm vóc bình thường nhưng Keegan lại là người chơi đầu rất tốt

Cầu thủ chơi ăn ý nhất với Keegan là John Toshack, từng là HLV của Real Madrid. Đây là một trong những cặp tấn công hay nhất trong lịch sử bóng đá Anh. Trong trận đầu tiên hau cầu thủ này chơi cùng nhau, Keegan đã ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho Liverpool, vào lưới Nottingham Forest. Anh ghi hơn 100 bàn cho Liverpool và chia tay với đội bóng bằng việc giành chiếc Cúp C1 năm 1977. Sang Hamburg, tài năng của Keegan tiếp tục nở rộ và anh đã hai lần giành Quả bóng Vàng châu Âu năm 1978 và 1979 (cầu thủ Anh duy nhất thực hiện được điều này), thành tích chỉ có Johan Cruyff mới thực hiện được trước đó.

Sau khi giải nghệ, Keegan bắt đầu sự nghiệp HLV tại Southampton. Anh bắt đầu được biết khi đưa Newcastle từ một đội bóng hạng Hai trở thành một đại diện hàng đầu của giảI ngoạI hạng Anh. Những năm dưới thời Keegan, Newcastle đã chơi một thứ bóng đá quyến rũ, làm mê hoặc lòng người nhưng không có may mắn giành chức VĐ. Một thành tích nữa: đưa Fulham từ hạng Hai lên hạng nhất năm 1999. Khi dẫn dắt đội tuyển Anh, Keegan không có được những thành công như vậy và vừa phải từ chức. Sự ra đi của ông để lại nhiều luyến tiếc trong lòng các cầu thủ.

st_strick87
21-09-2008, 10:52 PM
bài viết của bạn thật hay và rất hữu ích :D thanks Maradola

cuongxu
25-09-2008, 03:14 PM
Ryan Giggs là cầu thủ giàu thành tích nhất CLB với 18 danh hiệu quan trọng, thế nhưng, nếu không nhờ có bàn tay dẫn dắt của Sir Alex Ferguson, có lẽ anh cũng không thể mang vinh quang về cho Old Trafford như ngày hôm nay.

Cầu thủ sinh ra tại Cardiff này đã được theo học trường năng khiếu của Manchester City thuở thiếu thời, nhưng Sir Alex đã có một chuyến viếng thăm cá nhân tới nhà anh vào đúng sinh nhật lần thứ 14 của anh và Ryan đã quyết định bỏ qua cơ hội được ký hợp đồng với CLB thời niên thiếu của mình.

Anh đã chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp tại United vào tháng 11 năm 1990. Trận đấu trình làng của anh là cuộc chạm trán với Everton tại Old Trafford ở giải hạng nhất cũ vào ngày 2/3/1991 từ vị trí dự bị thay cho Denis Irwin.

Mùa giải sau đó, trong lần được xuất trận đầu tiên của mình, anh đã tạo được một ấn tượng đáng nhớ khi ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho United trong chiến thắng 1-0 trước Manchester City cho dù đó chỉ là một bàn thắng may mắn.

cuongxu
25-09-2008, 03:19 PM
Ryan Giggs là cầu thủ giàu thành tích nhất CLB với 18 danh hiệu quan trọng, thế nhưng, nếu không nhờ có bàn tay dẫn dắt của Sir Alex Ferguson, có lẽ anh cũng không thể mang vinh quang về cho Old Trafford như ngày hôm nay.

Cầu thủ sinh ra tại Cardiff này đã được theo học trường năng khiếu của Manchester City thuở thiếu thời, nhưng Sir Alex đã có một chuyến viếng thăm cá nhân tới nhà anh vào đúng sinh nhật lần thứ 14 của anh và Ryan đã quyết định bỏ qua cơ hội được ký hợp đồng với CLB thời niên thiếu của mình.

Anh đã chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp tại United vào tháng 11 năm 1990. Trận đấu trình làng của anh là cuộc chạm trán với Everton tại Old Trafford ở giải hạng nhất cũ vào ngày 2/3/1991 từ vị trí dự bị thay cho Denis Irwin.

Mùa giải sau đó, trong lần được xuất trận đầu tiên của mình, anh đã tạo được một ấn tượng đáng nhớ khi ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho United trong chiến thắng 1-0 trước Manchester City cho dù đó chỉ là một bàn thắng may mắn.
Sau khi kết thúc một khóa học đào tạo quản lí thể thao tại trường đại học Brunel, Adams trở thành người quản lí chính thức của Wycombe Wanderers năm 2003. Tháng 11 năm 2004 anh từ chức.

Ngày 7/7/2005 Adams nhận lời làm huấn luyện viên đào tạo học viên cho Feyenoord của Hà Lan. Anh đảm nhận một đội trẻ của Feyenoord. Sau đó anh có một thời gian ngắn ngủi làm huấn luyện viên trưởng cho Utrecht vào khoảng 15/1 đến 2/2 năm 2006.

Ngày 28/6/2006 Admas tới Portsmouth với cương vị là trợ lí HLV của đội bóng, vị trí kế nhiệm Kevin Bond.

Những công việc từ thiện

henry_henry
25-09-2008, 03:51 PM
Ryan Giggs là cầu thủ giàu thành tích nhất CLB với 18 danh hiệu quan trọng, thế nhưng, nếu không nhờ có bàn tay dẫn dắt của Sir Alex Ferguson, có lẽ anh cũng không thể mang vinh quang về cho Old Trafford như ngày hôm nay.

Cầu thủ sinh ra tại Cardiff này đã được theo học trường năng khiếu của Manchester City thuở thiếu thời, nhưng Sir Alex đã có một chuyến viếng thăm cá nhân tới nhà anh vào đúng sinh nhật lần thứ 14 của anh và Ryan đã quyết định bỏ qua cơ hội được ký hợp đồng với CLB thời niên thiếu của mình.

Anh đã chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp tại United vào tháng 11 năm 1990. Trận đấu trình làng của anh là cuộc chạm trán với Everton tại Old Trafford ở giải hạng nhất cũ vào ngày 2/3/1991 từ vị trí dự bị thay cho Denis Irwin.

Mùa giải sau đó, trong lần được xuất trận đầu tiên của mình, anh đã tạo được một ấn tượng đáng nhớ khi ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho United trong chiến thắng 1-0 trước Manchester City cho dù đó chỉ là một bàn thắng may mắn.
Sau khi kết thúc một khóa học đào tạo quản lí thể thao tại trường đại học Brunel, Adams trở thành người quản lí chính thức của Wycombe Wanderers năm 2003. Tháng 11 năm 2004 anh từ chức.

Ngày 7/7/2005 Adams nhận lời làm huấn luyện viên đào tạo học viên cho Feyenoord của Hà Lan. Anh đảm nhận một đội trẻ của Feyenoord. Sau đó anh có một thời gian ngắn ngủi làm huấn luyện viên trưởng cho Utrecht vào khoảng 15/1 đến 2/2 năm 2006.

Ngày 28/6/2006 Admas tới Portsmouth với cương vị là trợ lí HLV của đội bóng, vị trí kế nhiệm Kevin Bond.

Những công việc từ thiện

Đây là topic về Arsenal mà bạn .
.......

phongthan1988
16-10-2008, 09:03 PM
có ai biết tiểu sử của nelson vivas-cầu thủ người argentina chơi cho arsenal không

phongthan1988
16-10-2008, 09:19 PM
thiếu cro7 là không có được đâu.cr7 là người dẫn dắt MU tiến tới chức vô địch pre và c1 nhen

elnino491
16-10-2008, 09:55 PM
thiếu cro7 là không có được đâu.cr7 là người dẫn dắt MU tiến tới chức vô địch pre và c1 nhen

Ronaldo giờ đây đã mất tình cảm ít nhiều với Fans Man U nhà mình rồi, lòng trung thành của R7 đã bị đặt dấu hỏi, giờ đây hi vọng Rooney sẽ trở thành 1 tượng dài9 tại Man U :a29:

nna23101989
02-11-2008, 09:43 AM
Giggs với schole thì trung thành khỏi nói rồi, mà 2 thằng đấy đá công nhận hay mà ổn định.
Còn ông R7 thì đá hay mà độ trung thành và trác táng ngoài sân thì zzz, chắc không thọ được lâu đâu.
Rooney thì còn trẻ chưa biết thế nào, nhưng phong độ thì nói chung cũng chỉ tạm thôi, ko giữ phong độ bền lâu được

acmasocola
02-11-2008, 10:25 AM
Rooney được vài trận thui...
mà cha này mới thề gắn bó trọn đời vs MU đấy...đc lắm